Về trang chủ


23/04/2019

Hải Phòng tạo lập cơ sở dữ liệu điện tử về biển, đảo

 

TP. Hải Phòng đang thực hiện Đề án “Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường vùng biển, ven biển và hải đảo”.
 
Mục tiêu của đề án này là thu thập tài liệu, dữ liệu; xây dựng cơ sở dữ liệu TNMT biển, ven biển và hải đảo; xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu. Điểm đáng chú ý của đề án là cơ sở dữ liệu TNMT biển và hải đảo được phân loại, xử lý, tích hợp, số hóa, chuẩn hóa và sắp xếp một cách hệ thống dưới dạng tệp tin dữ liệu, lưu trữ trên các phương tiện điện tử.
 
Theo đó, việc thu thập dữ liệu sẽ được phân tích, phân loại, chọn lọc theo 6 lĩnh vực: điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, tài nguyên, môi trường, kinh tế – xã hội, thiên tai. Cấu trúc của phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu gồm 3 tầng: tầng cơ sở dữ liệu, tầng ứng dụng, tầng giao diện. Phần mềm gồm 8 chức năng chính: xác thực người dùng, quản trị hệ thống, quản lý cơ sở dữ liệu thiên tai, quản lý cơ sở dữ liệu tài nguyên, quản lý cơ sở dữ liệu môi trường, quản lý cơ sở dữ liệu điều kiện tự nhiên, quản lý cơ sở dữ liệu kinh tế – xã hội, quản lý cơ sở dữ liệu hạ tầng.
 

San ho HP
 Hải Phòng có tài nguyên về biển vô cùng phong phú
 
Thời gian qua, trong báo cáo công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn thiếu số liệu về 6 thành phần, bao gồm: thông tin về diện tích ran san hô; diện tích hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng địa phương, quốc gia, quốc tế; hệ sinh thái tự nhiên, nhạy cảm cần được bảo vệ; số loài nguy cấp, quý hiếm cần được bảo vệ; số loài nguy cấp quý hiếm bị tuyệt chủng; số nguồn gen quý có giá trị và số loài ngoại lai xâm hại môi trường. Chỉ có thông tin số loài nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ.
 
Sở TN&MT TP. Hải Phòng cũng thừa nhận, thành phố chưa có danh mục mô tả đầy đủ, cụ thể về thông tin dữ liệu môi trường. Các dữ liệu điều tra, nghiên cứu chuyên ngành về tài nguyên và môi trường biển, đảo được thực hiện qua nhiều thời kỳ, thuộc nhiều chương trình, kế hoạch, quy hoạch, đề tài, dự án của nhiều sở, ban, ngành ở thành phố hoặc bộ, ngành trung ương. Do đó, cơ sở dữ liệu không bảo đảm tính hệ thống và chưa được chuẩn hóa, chưa bảo đảm chất lượng, cơ sở khoa học tin cậy. Thông tin dữ liệu nằm phân tán, khiến cơ quan quản lý thiếu cái nhìn tổng thể, bao quát về nhiều vấn đề liên quan môi trường. Do đó, thực hiện và sớm hoàn thiện đề án điều tra, khảo sát, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái biển mang tính hệ thống là căn cứ để thành phố đưa ra những giải pháp, biện pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, đảo phù hợp.
 
Để làm phong phú hơn những cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường biển, TS. Lê Hùng Anh – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và nhóm nghiên cứu cũng đang tiến hành “điều tra bổ sung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên sinh vật đảo Bạch Long Vỹ”. Mục tiêu nhằm xây dựng thành công bộ mẫu tiêu bản và phần mềm quản lý tài nguyên sinh vật của đảo Bạch Long Vỹ; đặc biệt toàn bộ những dữ liệu nghiên cứu trước đây về tài nguyên sinh vật đảo Bạch Long Vỹ được số hóa. Thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu tập hợp, phân loại và hệ thống hóa cơ sở dữ liệu từ các đề tài nghiên cứu trước đây; đồng thời nghiên cứu bổ sung, cập nhật những nhóm động vật, thủy sinh vật có kích thước nhỏ đặc trưng khu vực ven bờ và trên đảo.
 
Nguồn: monre.gov.vn