Về trang chủ


Xác định phạm vi vùng bờ theo pháp luật quốc tế và Việt Nam
Là khu vực giao thoa giữa đất liền hoặc đảo với biển, vùng bờ chiếm vị trí quan trọng trong cấu trúc lãnh thổ quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Xác định phạm vi vùng bờ là việc làm tối cần thiết nếu muốn thực hiện hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo nói chung và quản lý tổng hợp vùng bờ nói riêng.
Một số hạn chế trong ứng phó sự cố tràn dầu ở Việt Nam
Theo thống kê của Hiệp hội các chủ hàng chở dầu quốc tế từ năm 2005 đến năm 2014 đối với 39 quốc gia thì Việt Nam là một trong 5 quốc gia có số lượng sự cố tràn dầu nhiều nhất với số lượng từ 10 sự cố trở lên.
Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo bao gồm các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản mang tính liên ngành, liên vùng, ở vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề; điều tra cơ bản hải đảo, phát hiện nguồn tài nguyên mới, các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Hệ thống quản lý nhà nước về biển, đảo trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Việt Nam nằm phía Tây Biển Đông - có bờ biển dài khoảng 3260 km, nằm trên đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, con đường chiến lược về giao lưu, thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, chiếm tới một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới...
Vì một nền kinh tế biển phát triển bền vững
Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó, nhấn mạnh đến việc phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam là quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Với tinh thần đó, 10 năm qua, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã và đang nỗ lực phấn đấu cùng với cả nước thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhằm định hướng quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế biển, đảo theo hướng bền vững.
Quản lý tổng hợp, thống nhất biển và hải đảo Việt Nam bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X của Đảng về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”,Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT. Trong đó, thành lậpTổng cục Biển và Hải đảo (B&HĐ)Việt Nam...
Tăng cường kiểm soát rác thải nhựa vùng ven biển Việt Nam
Rác thải nhựa đại dương đã và đang trở thành hiểm họa mang tính toàn cầu. Không ngoại lệ, vùng ven biển Việt Nam cũng đang gia tăng ô nhiễm rác thải nhựa đại dương. Điều này dẫn đến những hệ lụy to lớn về kinh tế - xã hội (KT-XH), đòi hỏi phải có những giải pháp tăng cường kiểm soát rác thải nhựa đại dương vùng ven biển Việt Nam.
Ðịnh hướng xây dựng thương hiệu và phát huy giá trị tài nguyên thiên nhiên của Khu bảo tồn biển Bạch Long Vỹ
Đảo Bạch Long Vỹ nằm giữa vịnh Bắc bộ, thuộc TP. Hải Phòng. Trong hệ thống các đảo ven bờ Việt Nam, Bạch Long Vỹ là một trong ba đảo xa nhất, chỉ sau Hòn Hải thuộc quần đảo Phú Quý và đảo Thổ Chu. Với vị thế đặc biệt, tài nguyên phong phú, Bạch Long Vỹ là Khu bảo tồn (KBT) biển đầu tiên ở Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập năm 2013. Theo Quyết định thành lập, KBT biển Bạch Long Vỹ thuộc loại hình bảo tồn: “Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh”. Với đặc thù của một huyện đảo nhỏ xa bờ, việc xây dựng và phát huy các giá trị của KBT biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm chủ quyền quốc gia trên vịnh Bắc bộ.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Tổng cục) cũng như công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong thời gian tới, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã có buổi làm việc trực tiếp với Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên, môi trường (Cục CNTT), thông qua buổi làm việc nhằm đi tới thống nhất các nội dung cụ thể giữa hai bên cùng phối hợp triển khai thực hiện trong giai đoạn tiếp theo
Hiện trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu trên biển
Sự cố tràn dầu trên biển thường được xem là thảm họa đối với môi trường, sinh thái biển và vùng bờ, tài sản, sức khoẻ, tính mạng của tổ chức, cá nhân. Hai nhóm thiệt hại chính do ô nhiễm dầu tràn gồm: (1) thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; (2) thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Hiện trạng pháp luật về khắc phục sự cố tràn dầu trên biển
Sự cố dầu tràn trên biển thường để lại hậu quả nặng nề đối với môi trường, hệ sinh thái biển và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế biển như du lịch, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân.Phòng ngừa sự cố tràn dầu là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để tránh các sự cố tràn dầu tràn dầu xảy ra như các tàu chở dầu phải được thiết kế đảm bảo các tiêu chuẩn, việc lưu trữ, vận chuyển dầu phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt.
Giao khu vực biển để nuôi trồng thuỷ sản
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật thủy sản mới thay thế Luật thủy sản năm 2003; Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Tại chương III của Luật thủy sản 2017 đã quy định về giao khu vực biển để nuôi trồng thuỷ sản.
Quy định về phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 14/2018/QĐ-TTg ngày 12/3/2018 ban hành Quy chế phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Theo đó, Quy chế phối hợp quy định về nguyên tắc, nội dung, phương thức và trách nhiệm phối hợp giữa các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Quốc phòng, Ngoại giao, Công an, Khoa học và Công nghệ trong việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học; kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo được đề ra tại Điều 42 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là “Các khu vực biển phải được phân vùng rủi ro ô nhiễm để có giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo hiệu quả”. Việc xác định cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; phân vùng rủi ro và lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo là một nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Khoản 5 Điều 43).
Cần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển và hải đảo ở địa phương
Trong thời gian qua, các địa phương có biển đã tổ chức triển khai phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Phương thức này đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như bước đầu đã dần thiết lập được cơ chế, công cụ điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực nhằm quản lý có hiệu quả các hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo; điều chỉnh hoạt động của tổ chức, cá nhân để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển được bảo vệ; thúc đẩy tạo ra sự hài hòa lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Phân bố kim loại nặng trong trầm tích bãi triều tại bãi nuôi nghêu xã Tân Thành, gò Công Đông, Tiền Giang
Nghiên cứu về sự phân bố kim loại nặng (KLN) trong các mẫu trầm tích bãi triều được thực hiện tại khu vực bãi nuôi nghêu xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Các KLN (Cr, Co, Pb, As, Zn, Cd) trong các phân lớp trầm tích (0 - 2 cm và 20 - 40 cm) đã được phân tích bởi thiết bị ICP-MS. Các kết quả thu được cho thấy, hoạt động tiêu hóa của nghêu hoặc quá trình phân hủy sinh học phần thịt và lớp vỏ nghêu có khả năng gây ảnh hưởng đến hàm lượng các KLN hiện diện trong trầm tích. Chỉ số làm giàu (EF) và chỉ số tích lũy địa chất (Igeo) cho thấy, hàm lượng Kẽm (Zn) tuy khá cao trong các mẫu phân tích nhưng mức độ ô nhiễm lại thấp hơn so với Asen (As) và Cadimi (Cd). Giá trị EF và Igeo cao của Cd tại phân lớp trên của các mẫu phân tích chỉ ra mức độ ô nhiễm tại bãi nuôi nghêu. Ma trận tương quan giữa các KLN được thiết lập chỉ ra các KLN đến từ các nguồn khác nhau.
Đánh giá một số yếu tố thủy hóa của môi trường nước nuôi trồng thủy sản tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt lớn nhất khu vực miền Bắc nước ta. Phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong những năm qua đã góp phần nâng cao thu nhập của xã hội, cải thiện đời sống của người dân trong vùng, bên cạnh những mặt tích cực nó cũng gây những tác động tiêu cực đến môi trường, suy giảm chất lượng nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc nuôi trồng, bệnh dịch đã xuất hiện thường xuyên. Các yếu tố thủy hóa môi trường nước (nhiệt độ, độ đục, pH, DO, khí H­2S, các muối dinh dưỡng, BOD5, COD) có ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài nuôi. Cần thiết phải bảo đảm chất lượng môi trường nước tốt nhằm hạn chế rủi ro trong NTTS.
Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ
Vùng bờ là nơi có nhiều hệ sinh thái quan trọng, có sự tương tác giữa biển và đất liền mạnh nhất và là nơi tập trung nhiều hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, dễ phát sinh các xung đột, mâu thuẫn về lợi ích trong khai thác, sử dụng, đồng thời có tác động, ảnh hưởng mạnh nhất đến môi trường, hệ sinh thái biển. Do vậy, khu vực này cần được quản lý đặc biệt để duy trì và phát triển bền vững; việc xác lập vùng bờ và quy định các công cụ quản lý tổng hợp vùng bờ trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là hết sức quan trọng, cần thiết.
Quy hoạch không gian biển và ven biển: nhu cầu của Việt Nam.
Là quốc gia lớn ven bờ Biển Đông với chỉ số biển (khoảng 0,01) cao gấp 6 lần chỉ số biển trung bình toàn cầu, việc đặt biển vào vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước như tinh thần Nghị quyết 09/2006/NQ-TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 hoàn toàn là một hướng đi đúng, một cách nhìn xa, trông rộng.
Tăng cường công tác bảo vệ môi trường và an ninh an toàn vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh với đặc thù biển đảo rộng lớn, đang chịu nhiều sức ép về môi trường sinh thái bởi nhiều tác nhân như biến đổi khí hậu (BĐKH), các hoạt động kinh tế - xã hội (KT - XH) đã và đang ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường sinh thái vịnh Hạ Long. Để bảo tồn nguyên vẹn các giá trị của Di sản Thiên nhiên thế giới và phát huy các giá trị này phục vụ nhu cầu phát triển KT - XH, công tác BVMT cần được chú trọng hàng đầu.

 | Trang sau »