Về trang chủ


Tăng cường kiểm soát rác thải nhựa vùng ven biển Việt Nam
Rác thải nhựa đại dương đã và đang trở thành hiểm họa mang tính toàn cầu. Không ngoại lệ, vùng ven biển Việt Nam cũng đang gia tăng ô nhiễm rác thải nhựa đại dương. Điều này dẫn đến những hệ lụy to lớn về kinh tế - xã hội (KT-XH), đòi hỏi phải có những giải pháp tăng cường kiểm soát rác thải nhựa đại dương vùng ven biển Việt Nam.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Tổng cục) cũng như công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong thời gian tới, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã có buổi làm việc trực tiếp với Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên, môi trường (Cục CNTT), thông qua buổi làm việc nhằm đi tới thống nhất các nội dung cụ thể giữa hai bên cùng phối hợp triển khai thực hiện trong giai đoạn tiếp theo
Hiện trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu trên biển
Sự cố tràn dầu trên biển thường được xem là thảm họa đối với môi trường, sinh thái biển và vùng bờ, tài sản, sức khoẻ, tính mạng của tổ chức, cá nhân. Hai nhóm thiệt hại chính do ô nhiễm dầu tràn gồm: (1) thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; (2) thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Hiện trạng pháp luật về khắc phục sự cố tràn dầu trên biển
Sự cố dầu tràn trên biển thường để lại hậu quả nặng nề đối với môi trường, hệ sinh thái biển và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế biển như du lịch, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân.Phòng ngừa sự cố tràn dầu là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để tránh các sự cố tràn dầu tràn dầu xảy ra như các tàu chở dầu phải được thiết kế đảm bảo các tiêu chuẩn, việc lưu trữ, vận chuyển dầu phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt.
Giao khu vực biển để nuôi trồng thuỷ sản
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật thủy sản mới thay thế Luật thủy sản năm 2003; Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Tại chương III của Luật thủy sản 2017 đã quy định về giao khu vực biển để nuôi trồng thuỷ sản.
Quy định về phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 14/2018/QĐ-TTg ngày 12/3/2018 ban hành Quy chế phối hợp cấp phép, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Theo đó, Quy chế phối hợp quy định về nguyên tắc, nội dung, phương thức và trách nhiệm phối hợp giữa các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Quốc phòng, Ngoại giao, Công an, Khoa học và Công nghệ trong việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học; kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo được đề ra tại Điều 42 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là “Các khu vực biển phải được phân vùng rủi ro ô nhiễm để có giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo hiệu quả”. Việc xác định cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; phân vùng rủi ro và lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo là một nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Khoản 5 Điều 43).
Cần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển và hải đảo ở địa phương
Trong thời gian qua, các địa phương có biển đã tổ chức triển khai phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Phương thức này đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như bước đầu đã dần thiết lập được cơ chế, công cụ điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực nhằm quản lý có hiệu quả các hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo; điều chỉnh hoạt động của tổ chức, cá nhân để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển được bảo vệ; thúc đẩy tạo ra sự hài hòa lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Phân bố kim loại nặng trong trầm tích bãi triều tại bãi nuôi nghêu xã Tân Thành, gò Công Đông, Tiền Giang
Nghiên cứu về sự phân bố kim loại nặng (KLN) trong các mẫu trầm tích bãi triều được thực hiện tại khu vực bãi nuôi nghêu xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Các KLN (Cr, Co, Pb, As, Zn, Cd) trong các phân lớp trầm tích (0 - 2 cm và 20 - 40 cm) đã được phân tích bởi thiết bị ICP-MS. Các kết quả thu được cho thấy, hoạt động tiêu hóa của nghêu hoặc quá trình phân hủy sinh học phần thịt và lớp vỏ nghêu có khả năng gây ảnh hưởng đến hàm lượng các KLN hiện diện trong trầm tích. Chỉ số làm giàu (EF) và chỉ số tích lũy địa chất (Igeo) cho thấy, hàm lượng Kẽm (Zn) tuy khá cao trong các mẫu phân tích nhưng mức độ ô nhiễm lại thấp hơn so với Asen (As) và Cadimi (Cd). Giá trị EF và Igeo cao của Cd tại phân lớp trên của các mẫu phân tích chỉ ra mức độ ô nhiễm tại bãi nuôi nghêu. Ma trận tương quan giữa các KLN được thiết lập chỉ ra các KLN đến từ các nguồn khác nhau.
Đánh giá một số yếu tố thủy hóa của môi trường nước nuôi trồng thủy sản tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt lớn nhất khu vực miền Bắc nước ta. Phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong những năm qua đã góp phần nâng cao thu nhập của xã hội, cải thiện đời sống của người dân trong vùng, bên cạnh những mặt tích cực nó cũng gây những tác động tiêu cực đến môi trường, suy giảm chất lượng nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc nuôi trồng, bệnh dịch đã xuất hiện thường xuyên. Các yếu tố thủy hóa môi trường nước (nhiệt độ, độ đục, pH, DO, khí H­2S, các muối dinh dưỡng, BOD5, COD) có ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài nuôi. Cần thiết phải bảo đảm chất lượng môi trường nước tốt nhằm hạn chế rủi ro trong NTTS.
Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo bao gồm các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản mang tính liên ngành, liên vùng, ở vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề; điều tra cơ bản hải đảo, phát hiện nguồn tài nguyên mới, các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ
Vùng bờ là nơi có nhiều hệ sinh thái quan trọng, có sự tương tác giữa biển và đất liền mạnh nhất và là nơi tập trung nhiều hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, dễ phát sinh các xung đột, mâu thuẫn về lợi ích trong khai thác, sử dụng, đồng thời có tác động, ảnh hưởng mạnh nhất đến môi trường, hệ sinh thái biển. Do vậy, khu vực này cần được quản lý đặc biệt để duy trì và phát triển bền vững; việc xác lập vùng bờ và quy định các công cụ quản lý tổng hợp vùng bờ trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là hết sức quan trọng, cần thiết.
Quy hoạch không gian biển và ven biển: nhu cầu của Việt Nam.
Là quốc gia lớn ven bờ Biển Đông với chỉ số biển (khoảng 0,01) cao gấp 6 lần chỉ số biển trung bình toàn cầu, việc đặt biển vào vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước như tinh thần Nghị quyết 09/2006/NQ-TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 hoàn toàn là một hướng đi đúng, một cách nhìn xa, trông rộng.
Tăng cường công tác bảo vệ môi trường và an ninh an toàn vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh với đặc thù biển đảo rộng lớn, đang chịu nhiều sức ép về môi trường sinh thái bởi nhiều tác nhân như biến đổi khí hậu (BĐKH), các hoạt động kinh tế - xã hội (KT - XH) đã và đang ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường sinh thái vịnh Hạ Long. Để bảo tồn nguyên vẹn các giá trị của Di sản Thiên nhiên thế giới và phát huy các giá trị này phục vụ nhu cầu phát triển KT - XH, công tác BVMT cần được chú trọng hàng đầu.
Đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng biển Côn Đảo
Trong những năm gần đây, môi trường nước tại vùng biển Côn Đảo đã có sự suy giảm tương đối lớn về chất lượng, cụ thể môi trường nước tại đây đã hình thành một số dị thường của các anion và kim loại nặng và nguy cơ ô nhiễm bởi dầu ngày càng gia tăng. Dưới đây là kết quả chi tiết đối với chất lượng môi trường nước mặt trên đảo và môi trường nước biển đến độ sâu 30m nước.
Ðẩy mạnh công tác phục hồi, tái tạo rạn san hô, cỏ biển Khu bảo tồn biển Lý Sơn
Khu bảo tồn biển (KBTB) Lý Sơn (Quảng Ngãi) có diện tích mặt nước biển 7.113 ha, được chia thành 3 vùng chức năng gồm: Vùng bảo vệ nghiêm ngặt có độ sâu từ 3 - 20 m (diện tích 620 ha); Vùng phục hồi sinh thái thuộc khu vực đảo Lớn và đảo Bé trên (2.024 ha); Vùng phát triển (4.469 ha) gồm âu cảng và phần biển bao quanh. Vùng biển Lý Sơn với độ đa dạng sinh học cao, hệ sinh thái (HST) điển hình như rạn san hô, thảm cỏ biển và nhiều hải sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao (bào ngư, trai tai tượng). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do hoạt động khai thác quá mức của người dân đã làm thảm cỏ biển, rạn san hô bị suy giảm về diện tích và độ che phủ.
Hành lang bảo vệ bờ biển – công cụ quan trọng trong bảo vệ bờ biển, bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển
Tại sao lại phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển? Trong bối cảnh, vùng bờ dễ bị tổn thương do các nguy cơ từ tự nhiên như xói mòn, bão lũ, ngập lụt, biến đổi khí hậu và nước biển dâng,… và từ hoạt động của con người như việc khai thác, sử dụng quá mức các dạng tài nguyên, các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, hệ sinh thái biển và vùng bờ,…, hành lang bảo vệ bờ bờ biển được xem là một trong những công cụ quan trọng góp phần giải quyết các vấn đề này. Kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển đáp ứng được nhiều mục tiêu chính sách khác nhau như: (1) Hành lang bảo vệ bờ biển cung cấp một khoảng không gian có hiệu quả cao trong việc giảm thiểu thiệt hại tài sản do lũ lụt và xói mòn ven biển và bảo vệ các công trình như kè bờ, đê điều; (2) Không giống như các cấu trúc cứng để bảo vệ bờ biển, hành lang bảo vệ bờ biển giúp duy trì chu trình tự nhiên của bờ biển và bảo tồn tính động của bờ biển tự nhiên và điều này cho phép các chu trình xói mòn/bồi tụ tự nhiên xảy ra và giúp duy trì lượng trầm tích ở bờ biển; (3) Hành lang bảo vệ bờ biển cũng giúp duy trì tiếp cận bờ biển bằng cách ngăn chặn các công trình ngay trên bờ biển cũng như cung cấp không gian mở của bờ biển tự nhiên; (4) Hàng lang bảo vệ bờ biển thường được xem là không gian vui chơi công cộng mở và chúng cũng có thể cung cấp quyền tiếp cận của công chúng với biển.
Triển khai xác định ranh giới quản lý hành chính biển, hải đảo Việt Nam
Sáng ngày 19/9, Cục Đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội thảo xác định ranh giới quản lý hành chính biển, hải đảo Việt Nam. Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc tới dự và phát biểu khai mạc Hội thảo. Tham dự Hội thảo có đại diện các bộ ngành liên quan, các đơn vị trực thuộc Bộ và 28 tỉnh, thành phố ven biển.
CẦN SỚM THIẾT LẬP HÀNH LANG BẢO VỆ BỜ BIỂN ĐỂ TRIỂN KHAI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường (BVMT) biển và hải đảo là hoạt động hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của các hệ sinh thái (HST) biển, hải đảo và vùng bờ nhằm phát triển bền vững, bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng biển đảo. Một trong những công cụ quan trọng để triển khai phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển và hải đảo là thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển (BVBB).
Xác định giá trị và giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long và Quần đảo Cát Bà
Ngày 24/8/2017 tại thành phố Hải Phòng, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đã tổ chức Hội thảo khoa học “Giá trị và các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long và Quần đảo Cát Bà”. Tham dự Hội thảo có đại diện các bộ, ngành có liên quan; hai địa phương Hải Phòng và Quảng Ninh; các chuyên gia, nhà nghiên cứu của các viện nghiên cứu, trường đại học.

 | Trang sau »