Về trang chủ


26/08/2018

Quản lý tổng hợp, thống nhất biển và hải đảo Việt Nam bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước

      Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X của Đảng về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”,Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT. Trong đó, thành lậpTổng cục Biển và Hải đảo (B&HĐ)Việt Nam với chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ TN&MTthực hiện nhiệm vụ QLNN tổng hợp và thống nhất về B&HĐ. Việc ra đời cơ quan quản QLNN tổng hợp, thống nhất về B&HĐ là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử QLTHB&HĐ ở nước ta.

 

     Những dấu ấn vàng son
 
     Dưới sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ TN&MT, những năm qua, Tổng cục B&HĐđã ổn định tổ chức bộ máy, tập trung nguồn lực để xây dựng, triển khai và kiểm tra việc thực hiện hệ thống CSPLQLTH tài nguyên, BVMTB&HĐ, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định.
 
     Một là, xây dựng hệ thống CSPLQLTH tài nguyên, BVMTB&HĐ. Tổng cục đã tập trung phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương có biển xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản QPPL phục vụ QLTH tài nguyên, BVMTB&HĐ.
 
     Đặc biệt, Luật TN,MTB&HĐ được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/6/2015 đã tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để triển khai một cách có hiệu quả phương thức QLTH tài nguyên, BVMTB&HĐ dựa trên tiếp cận hệ sinh thái. Đó là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên B&HĐ được khai thác, sử dụng hiệu quả. Đồng thời duy trì chức năng và cấu trúc của các hệ sinh thái B&HĐvà vùng bờ nhằm PTBV, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm QP-AN; quy định cụ thể một số nội dung mang tính đặc thù của biển như kiểm soát ONMT B&HĐ; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển; nhận chìm ở biển.
 
      Hai là, triển khai CSPLQLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ. Thực hiện nhiệm vụ quản lý điều tra cơ bản TN,MT B&HĐ, Tổng cục đã tham mưu giúp Bộ TN&MT phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có biển tổ chức triển khai các nhiệm vụ, dự án thuộc “Đề án Tổng thể điều tra cơ bản và quản lý TN, MTB&HĐ  đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” (Đề án 47). Kết quả bước đầu thực hiện Đề án là CSDL điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, TN&MT biển Việt Nam có tính đồng bộ, đáng tin cậy đã được xây dựng, phục vụ kịp thời cho công tác QLTHTN, BVMT B&HĐ, phục vụ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường nhằm PTBV kinh tế biển, cũng như giữ vững chủ quyền biển, đảo.
 
     Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý điều tra cơ bản TN,MTB&HĐ, Tổng cục còn tổ chức triển khai các hoạt động quản lý khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên biển thông qua công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; QLTH vùng bờ; giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Chính những hoạt động này tạo được sự điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên B&HĐ được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của các hệ sinh thái B&HĐvà vùng bờ nhằm PTBV, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm QP-AN.
 
      Công tác kiểm soát tài nguyên và BVMT trường B&HĐđược Tổng cục chú trọng thực hiện với các hoạt động nhằm từng bước kiểm soát TN, BVMT B&HĐ đảo như tập trung vào các nhiệm vụ BVMT biển liên quan đến ứng phó sự cố tràn dầu trên biển; quan trắc môi trường biển; tổ chức tiếp nhận và thẩm định hồ sơ cấp giấy phép nhận chìm ở biển.
 
      Công tác nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường B&HĐ được tập trung triển khai thông qua thực hiện Chương trình KH&CN trọng điểm “Nghiên cứu KH&CNphục vụ QLTH, thống nhất về B&HĐ Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015” của Bộ TN&MT nhằm mục tiêu hoàn thiện khung CSPL và thể chế quản lý B&HĐ; áp dụng phương pháp, công nghệ tiên tiến phục vụ điều tra cơ bản, giám sát, quy hoạch biển và hải đảo; nâng cao năng lực và khả năng hội nhập quốc tế về KHCN biển của Việt Nam. Thông qua việc rà soát các quy định của Luật TN,MT B&HĐ, Tổng cục đã đề xuất với Bộ phối hợp với Bộ KH&CN để tổ chức xây dựng Chương trình KH&CNcấp quốc gia về TN,MT B&HĐ. Đặc biệt, lần đầu tiên, Tổng cục đã tham mưu với Bộ và thực hiện các thủ tục để Bộ cấp phép cho Viện Hóa sinh hữu cơ Thái Bình Dương (CHLB Nga) sử dụng Tàu Viện sỹ Oparin và Viện nghiên cứu công nghệ Georgia (Hoa Kỳ) sử dụng Tàu Falkor vào nghiên cứu khoa học tại vùng biển của Việt Nam.
 
      Công tác hợp tác quốc tế ngày càng được củng cố và phát triển với việc tham giahợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực về biển như Nhóm công tác ASEAN về Môi trường biển và ven biển; Tiểu ban Khoa học, Công nghệ biển ASEAN; Diễn đàn toàn cầu về Đại dương, Vùng bờ và Hải đảo, Ủy Ban liên Chính phủ về Hải dương học của Việt Nam (IOC Việt Nam); Ủy ban quốc tế về các khu bảo tồn biển; thành viên của Tổ chức Đối tác quản lý môi trường biển Đông Á (PEMSEA), Cơ quan Điều phối các biển Đông Á (COBSEA), Ban Điều phối quốc gia thuộc Chương trình “Rừng ngập mặn cho tương lai” (MFF) của IUCN... Đồng thời, còn ký kết và triển khai các thỏa thuận, các bản ghi nhớ, triển khai các dự án hợp tác với các đối tác từ Nga, Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc, Philippine… nhằm khai thác nguồn lực để QLTHtài nguyên BVMTB&HĐ.
 
      Nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp khai thác biển về vai trò của biển, sự cần thiết khai thác bền vững tài nguyên, BVMT B&HĐ, Tổng cục đã tích cực phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, các bộ, ngành hữu quan và các địa phương có biển tổ chức các hoạt động tuyên truyền về B&HĐ gắn với các sự kiện như tổ chức Tuần lễ B&HĐ Việt Nam hàng năm, Diễn đàn Thương hiệu biển Việt Nam, Diễn đàn Kinh tế biển, các hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn, bồi dưỡng về B&HĐ, kiến thức pháp lý trong quản lý B&HĐ; phổ biến pháp luật QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ. Đặc biệt, Tổng cục đã tham mưu cho Bộ TN&MT tổ chức triển khai thực hiện Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và PTBV B&HĐ Việt Nam (Đề án 373). Những nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án 373 được giao chủ trì, Tổng cục đều tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện và đã có được một số sản phẩm như các tập phim, các bản tin, các lớp tập huấn.
 
      Ba là, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện CSPLQLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ. Xác định thanh thanh tra, kiểm tra việc thực hiện CSPLQLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ là nhiệm vụ ưu tiên, trong thời gian qua, Tổng cục  B&HĐ thường xuyên tổ chức các đoàn công tác kiểm tra, khảo sát, nắm bắt tình hình chấp hành pháp luật trong quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên và BVMT B&HĐ; hiện trạng môi trường biển; phối hợp với Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật TN&MT biển tại vùng biển đảo ở các địa phương có biển; tham gia các đoàn Thanh tra của Bộ thực hiện thanh tra việc chấp hành pháp luật về TN,MT B&HĐ. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, thanh tra đã có những kiến nghị, đề xuất với các cấp có thẩm quyền trong việc hoàn thiện các chế độ, chính sách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLTH tài nguyên và BVMT B&HĐ.
 
      Tầm nhìn chặng đường phát triển mới
 
     Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ trong thời gian tới cần xác định những phương hướng và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
 
      Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách, thực hiện tốt các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về B&HĐ. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định kỹ thuật phục vụ QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ. Tổ chức rà soát lại toàn bộ các quy định trong hệ thống văn bản QPPL về BVMT, tài nguyên nước để phát hiện các bất cập cũng như các quy định còn thiếu để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là trong khâu đánh giá ĐTM, giám sát các nguồn thải ra biển, quan trắc môi trường biển, quy trình ứng phó sự cố môi trường trên biển, vấn đề cấp phép xả thải ra biển… Xây dựng cơ chế, chính sách bảo đảm tài nguyên B&HĐ được quản lý, bảo vệ, sử dụng hợp lý, hiệu quảtheo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phục vụ phát triển KT-XH, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo đảm QP-AN vùng biển đảo.
 
      Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về quản lý, bảo vệ và PTBV và hải đảo Việt Nam. Đặc biệt, tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ; thông tin, tuyên truyền kế hoạch thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và BVMT biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược QLTH đới bờ Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam tới các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân.
 
      Thứ hai, hoàn thiện tổ chức bộ máy, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh sự phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương có biển.  Tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy QLTH tài nguyên và BVMT biển và hải đảo ở Tổng cục và các Chi cục B&HĐ. Tăng cường công tác đào tạo và phát triển nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện và triển khai quy hoạch phát triển nhân lực Ngành TN&MT giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030 sau khi được phê duyệt. Xây dựng và thực hiện đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức ngành TN&MT đến năm 2020; đề án đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ KHCN đến năm 2020.
 
      Đẩy mạnh sự phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương có biển trong tổ chức xây dựng, triển khai cơ chế, CSPL về QLTH tài nguyên và BVMT B&HĐ; phối hợp trong thanh tra, kiểm tra việc chấp hành cơ chế, CSPL về QLTH tài nguyên và BVMT B&HĐ.  
 
      Thứ ba, tăng cường công tác điều tra cơ bản, phát triển KHCN về tài nguyên, MT B&HĐ.  Xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thu hút tối đa các nguồn đầu tư phát triển phục vụ cho công tác điều tra cơ bản, đầu tư đồng bộ, có hệ thống, trọng tâm là hoàn thành đúng tiến độ các dự án, công trình trọng điểm.
 
      Tập trung nghiên cứu các vấn đề về công nghệ, trong đó chú trọng đến các công nghệ mới, hiện đại phục vụ công tác QLTH tài nguyên và BVMT B&HĐ bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, BVMT và PTBV. Đẩy mạnh đổi mới công nghệ; ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám, công cụ mô hình toán, tự động hóa và cải tiến công nghệ trong điều tra, đánh giá, dự báo, giám sát TN&MT biển; nhân rộng các mô hình quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả TN&MT biển.
 
      Hoàn thiện cơ sở khoa học cho hệ thống CSDL quốc gia về TN&MT biển; tổ chức quản lý, khai thác hiệu quả phục vụ công tác QLNNNgành TN&MT và phục vụ phát triển KT-XH đất nước.
 
      Thứ tư là, tập trung xây dựng các công cụ phục vụ quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên biển, BVMT biển.  Đó là sớm hoàn thiện để trình Quốc hội thông qua Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam đến năm 2050 và Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2017 - 2025; thúc đẩy xây dựng Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ và xây dựng chương trình trọng điểm điều tra cơ bản TN, MT B&HĐ để trình Chính phủ phê duyệt; hoàn thành việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.
 
      Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT B&HĐ đối với các hoạt động có nguy cơ và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển, đặc biệt là các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, cơ sở nuôi trồng và chế biến thủy sản, các hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch dọc theo bờ biển, trên các đảo. Tích cực phối hợp giữa các cơ quan QLNN về BVMT biển, lực lượng cảnh sát môi trường, bộ đội biên phòng và cảnh sát biển trong thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên và BVMT B&HĐ.
 
       Thứ năm là, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế phục vụ QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ.  Mở rộng hợp tác quốc tế từ hợp tác song phương, khu vực đến đa phương về biển và đại dương nhằm học hỏi kinh nghiệm về QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐvà góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Ưu tiên hợp tác trong điều tra cơ bản tài nguyên biển sâu; dự báo thiên tai, kiểm soát ONMT biển; điều tra, khảo sát, nghiên cứu khoa học trên thềm lục địa và khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố tràn dầu với các nước trong khu vực Biển Đông.
 
      Thứ sáu là, tăng cường năng lực, phương tiện, trang thiết bị phục vụ QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ.Chú trọng đến việc tăng cường năng lực của hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ từ trung ương đến địa phương; tập trung nguồn lực xây dựng các công cụ phục vụ QLTH tài nguyên, BVMT B&HĐ; đầu tư CSHT, trang thiết bị phục vụ công tác điều tra cơ bản B&HĐ, hệ thống hóa CSDL về TN,MT B&HĐ, quan trắc, giám sát tài nguyên, BVMT B&HĐ.
 
TS. TẠ ĐÌNH THI
Tổng cục trưởng
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam