Về trang chủ


05/10/2020

Nghiên cứu biển và đại dương từ kinh nghiệm quốc tế

 

Từ những năm 1980, nhiều chương trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện, bao gồm cả chương trình Nhiệt đới Đại dương và Khí quyển Toàn cầu, Thí nghiệm Lưu thông Đại dương Thế giới, Biến đổi Khí hậu và dự đoán biến đổi khí hậu và Nghiên cứu Khí quyển Hạ đại dương. Các chương trình này đóng vai trò chính trong việc tìm hiểu đại dương ở các khía cạnh thời tiết và khí hậu. Khi nghiên cứu đi sâu, các nhà khoa học bắt đầu chú ý đến các khu vực rộng hơn, như hệ sinh thái biển, khảo sát sinh học biển và tác động của con người ở vùng ven biển.
 
Đại dương là một thành phần chính trong sự phức hợp của hệ thống khoa học Trái đất trong sự tương tác với khí quyển và lục địa, và là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời tiết và biến đổi khí hậu. Từ những năm 1980, với việc triển khai Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới (WCRP) và Chương trình sinh quyển không gian địa lý quốc tế (IGBP), cũng như sự phát triển của các dự án khoa học và công nghệ biển chuyên ngành, nghiên cứu khoa học biển đã trải qua một sự phát triển và đạt nhiều thành tựu lớn.
 
Từ những năm 1980, nhiều chương trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện, bao gồm cả chương trình Nhiệt đới Đại dương và Khí quyển Toàn cầu, Thí nghiệm Lưu thông Đại dương Thế giới, Biến đổi Khí hậu và dự đoán biến đổi khí hậu và Nghiên cứu Khí quyển Hạ đại dương. Các chương trình này đóng vai trò chính trong việc tìm hiểu đại dương ở các khía cạnh thời tiết và khí hậu. Khi nghiên cứu đi sâu, các nhà khoa học bắt đầu chú ý đến các khu vực rộng hơn, như hệ sinh thái biển, khảo sát sinh học biển và tác động của con người ở vùng ven biển.
 
Các hoạt động này được chia làm 5 giai đoạn chính như sau:
 
Giai đoạn thứ nhất: đây là giai đoạn đầu của nghiên cứu khoa học công nghệ biển phục vụ điều tra cơ bản (thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 18). Trong giai đoạn này những khái niệm mới về biển và đại dương được hình thành, số liệu địa hình đáy biển được thu thập thông qua các tàu hàng hải. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha phát hiện ra dòng chảy Ca-na-ra, Gvi-ney, Ben-gen ở Đại Tây Dương.
 
Giai đoạn 2: từ đầu thế kỷ 18 đến những năm 70 của thế kỷ 19, đây là giai đoạn nghiên cứu và khảo sát đại dương thế giới. Trong giai đoạn này đã tiến hành chiều chuyến khảo sát biển và đại dương với sự tham gia của các nhà khoa học thực nghiệm và khoa học tự nhiên. Những kết quả đáng kể đầu tiên mang lại là của nhà thám hiểm Be-ring (năm 1728) và Be –ring, Chi-ri-cov (năm 1741) trên vùng biển bắc Thái Bình Dương. Kết quả của ba chuyến khảo sát vòng quanh đại dương thế giới của J.Cuca (1768 - 1779). Nhiều kết quả mới về vùng Tây Thái Bình Dương từ chuyến đi của Bu-gen-vin (1768) và La-pe-ru-za (1785 - 1788). Vào những năm 1803 - 1806 Kru-zen-stern và Li-si-an-ski là người đầu tiên xác định được nhiệt độ và trọng lượng riêng của nước biển tại các độ sâu khác nhau. Len-xo (1823 - 1826) là người đầu tiên xác định được hướng chuyển động nước sâu lạnh về phía xích đạo, nước ấm mặt về phía ngược lại. Trong giai đoạn này các thông tin về biển trước được chi tiết hóa và khẳng định lại. Lo-mo-no-xop (1760) đề nghị thực hiện phân loại băng đá đại dương và sơ đồ dòng chảy trên các đại dương. Mar-si-li (1725) cho xuất bản “Lịch sử vật lý biển” và đây được coi là ấn phẩm đầu về vật lý hải dương viết về nhiệt độ, trọng lượng riêng, màu sắc nước biển, về địa hình đáy và trầm tích biển. Mo-ri (1848) cho xuất bản “Tập bản đồ gió và dòng chảy” cho các vùng trục giao thông hàng hải. For-gam-mer (1865) lần đầu tiên xác định tương đối chính xác các thành phần muối nước biển.
 
Giai đoạn ba: từ những năm 70 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, tiến hành khảo sát thám hiểm, nghiên cứu đại dương áp dụng những phương pháp nghiên cứu của ngành khoa học Hải dương học. Đầu tiên những nghiên cứu mang phong cách miêu tả - tức là thu thập số liệu thực tế và một phần nào giải thích các hiện tược quan trắc thấy. Chuyến thám hiểm Hải dương học đầu tiên của các nhà khoa học Anh (1872-1876) dùng tầu Challenger nghiên cứu quan trắc tổng thể tại 362 trạm nước sâu trên khắp Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Khối lượng kết quả rất vĩ đại và đã được 70 nhà khoa học nghiên cứu trong vòng 20 năm. Kết quả khoa học thu được mang lại rất nhiều điều lý thú và bổ ích. Dit-mar tìm thấy sự ổn định không thay đổi của các thành phần muối nước biển. Me-rey và Re-na đưa ra phân loại trầm tích đáy biển. Ngoài ra trong thời gian thám hiểm cũng tìm thấy sự sống ở độ sâu 5000m.
 
Giai đoạn bốn: đây là giai đoạn phát triển bậc cao của hoạt động điều tra-nghiên cứu biển, đó là thời kỳ nghiên cứu chi tiết các đại dương và biển (thời gian đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai). Đặc trưng cho giai đoạn này nghiên cứu một cách có hệ thống. Các công trình đáng kể mang lại do tầu Na Uy “Mode” (1918 - 1920) dọc bờ các biển Bắc từ Na Uy đến Aliaska (Mỹ) và tầu “Dana” (1921 - 1922) trên Bắc Đại Tây Dương. Tàu Đức “Meteor” (1925 - 1937) đã thực hiện đo đạc hệ thống thường kỳ tại 14 mặt cắt của Đại Tây Dương và cho biết khái niệm tương đối chính xác về cấu trúc không gian các khối nước và sự hoàn lưu của chúng. Trong giai đoạn này các nhà Hải dương học đã chỉ ra các qui luật quan trọng về phát triển của các quá trình vật lý, hoá học, sinh học và địa chất diễn ra trong nước đại dương và vùng trên kề bờ, đáy và cả khí quyển trên biển.
 
Giai đoạn năm: hiện nay, tập trung vào nghiên cứu vấn đề, chuyên môn cụ thể các biển, đại dương. Đó là nghiên cứu bằng phương pháp thám hiểm tổng hợp với các công nghệ đo đạc hiện đại tự ghi, vệ tinh, radar, thí nghiệm và lý thuyết cho từng vấn đề lớn như dòng chảy, thủy triều, sóng, băng đá biển, âm học biển… Trên thế giới đã xây dựng nhiều tàu biển chuyên nghiên cứu khoa học và thường xuyên quan trắc thời tiết biển trên đại dương thế giới. Thời gian này đã có rất nhiều phát minh Hải dương học. Những năm 60 phát hiện ra dòng chảy ngược nước sâu xích đạo. Crom-well (Mỹ) tại vùng xích đạo Thái Bình Dương, phía dòng Nam Passat đã tìm thấy dòng nước có kích thước (cao 300m và rộng 300km) hướng sang Đông có vận tốc 150 cm/s. Đó chính là dòng Cromwell. Trong thời kỳ này phát hiện ra dòng Lomonoxop, Atilo-Gvian, Angola. Một phát hiện quan trọng như trong khí quyển đó là các xoáy Sinop trên biển và ngoài đại dương. Và cũng xác định đước lớp mỏng bề mặt, kênh âm dưới nước, vũng và mô đáy biển.
 
Nguồn: monre.gov.vn