Về trang chủ


09/06/2020

Phát triển “chuỗi đô thị biển”: Hướng đột phá trong sử dụng bền vững không gian biển Việt Nam

 

Nằm ở “nút giao” giữa hai luồng sáng kiến: Ấn Độ - Thái Bình Dương (liên kết Đông - Tây) và Vành đai, con đường (liên kết Bắc - Nam), Biển Đông tiếp tục khẳng định vị thế địa chính trị trong cấu trúc khu vực - nơi chứa đựng các lợi ích đan xen, vừa hội nhập, vừa cạnh tranh. Trong bối cảnh như vậy, chiến lược hướng tới một nền “kinh tế biển xanh và bền vững” đã được Đảng ta lựa chọn và hiện đang được triển khai vào thực tế với các quyết sách cụ thể. Luật Quy hoạch (2017) với quy hoạch không gian biển quốc gia, nếu được thực hiện hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, sẽ tạo nền tảng cho việc áp dụng cách tiếp cận quản lý mới - quản lý biển theo không gian, dựa vào hệ sinh thái. Loại hình quy hoạch mới này giúp hài hòa lợi ích giữa phát triển và bảo tồn, ưu tiên liên kết các mảng không gian chính yếu và tạo tương tác trong phát triển.

 

Thúc đẩy chuỗi liên kết vùng“đô thị biển”

 

Đô thị biển, như tên gọi của nó, phát triển dựa vào biển thay vì dựa vào đất (land-based) như các dạng đô thị nội địa (trên đất liền) thông thường. Cơ sở của đô thị biển, tùy theo vị trí của nó, phải là thế mạnh của kinh tế biển, kinh tế ven biển và kinh tế đảo. Sự thiếu sót trong nhận diện quy mô của kinh tế biển đã làm mất đi giá trị cốt lõi của nó và ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về đô thị biển và đô thị đảo. An ninh quốc gia, lợi thế cạnh tranh và khả năng hội nhập trên biển cũng theo đó bị suy giảm, bị đẩy lùi vào thị trường nội địa ngày một eo hẹp và bếp bênh. Trong khi dựa vào biển, tiến ra biển để làm cho đất nước mạnh giàu từ biển không chỉ là ý chí “biển cả” của dân tộc ta từ xưa tới nay, mà còn là mục tiêu chiến lược của Đảng và nhân dân ta. Yếu tố biển phải được đưa vào vị trí xứng đáng trong phát triển đô thị đảo thay vì cách nhìn phát triển thuần túy dựa vào phần “đất liền” khiêm tốn trên đảo như vừa qua đã thấy ở một số đảo.
 
Trong thực tế, đô thị biển ở nước ta thực ra mới thấy phát triển tập trung ở dải ven biển, và chỉ là các đô thị ven biển, như các thành phố Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu... Hiện chưa có đô thị đảo và đô thị trên biển theo đúng nghĩa của nó. Trong khi ở một số quốc gia, ngoài phát triển các đô thị ven biển đã chú trọng những đô thị đảo nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước (ví dụ, các nước nam châu Âu thuộc Địa Trung Hải), đô thị trên các đảo nhân tạo hoặc đô thị "nổi trên biển" gắn với cảng biển nổi, sân bay nổi... cũng đã và sẽ được xây dựng (ví dụ, ở các nước Trung Đông và Nhật Bản,...). Các dạng đô thị biển này được xây dựng ban đầu vào vốn tự nhiên (natural capital) và vốn con người, quá trình phát triển đã tích tụ dân số và tăng vốn kinh tế - xã hội (socio - economic capotal),... Nên trong quá trình phát triển cũng không tránh khỏi việc phải đánh đổi (trade off) một số giá trị vốn có nào đó, nhưng các giá trị đặc hữu, cốt lõi và có vai trò nền tảng duy trì các lợi ích dài hạn thì luôn tồn tại hoặc cần phải giữ lại.
 
Vì vậy, muốn phát triển các điểm cực và thúc đẩy liên kết vùng trong phát triển kinh tế biển, cần ưu tiên xem xét kết nối các đô thị ven biển cũ và mới để hình thành chuỗi các đô thị ven biển, đồng thời sớm hình thành chuôi đô thị đảo, đặt chúng trong một chỉnh thể không gian: ven biển - biển - đảo. Trước tiên, xem thử tình trạng chỉnh trang, nâng cấp và mở rộng các đô thị ven biển cũ gần đây có đem lại hiệu quả đích thực và dài hạn không. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục xây dựng các đô thị ven biển mới gắn với khu kinh tế ven biển và cảng nước sâu. Tiến hành nghiên cứu để tìm ra mô hình đô thị ven biển mới, đa dạng, hiệu quả, thích hợp, kế thừa và độc đáo. Ví dụ, các đô thị ven biển cũ như các thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu,... đều là những đô thị biển hình thành một cách "tự nhiên", dựa trên định hướng mối quan hệ phát triển giữa: cảng - biển - đô thị. Vậy, có thể các khu đô thị ven biển mới tiềm năng như thành phố Vạn Tường, Chu Lai gắn với cảng và cụm khu kinh tế Chu Lai - Dung Quất, thành phố Kỳ Anh gắn với cảng và khu kinh tế ven biển Vũng Áng,..v.v..
 
z
 
Dựa thế mạnh của biển để hình thành đô thị đảo
 
Ngoài đảo cũng vậy, đô thị đảo cũng phải có mô hình riêng, thuận thiên và dựa vào thế mạnh của biển chứ không phải dựa vào đất trên đảo là chính. Kinh tế đảo, vị thế, cũng định hướng dựa vào bảo tồn (vốn và tài sàn tự nhiên biển, đảo), du lịch xanh và bền vững. Khi đó, các đô thị đảo sẽ được kiến thiết theo hướng đô thị đảo xanh, một điểm cực giao thương trên biển và kết nối với đất liền và các đô thị đảo khác, hình thành chuỗi đô thị đảo. Các chuẩn mực đô thị đảo phải được các nhà kiến trúc và quy hoạch đô thị nghiên cứu kỹ, thận trọng, khách quan (không bị sức ép cục bộ nào) để có được "mô hình tham chiếu" khi quy hoạch và kiến trúc một đô thị đảo cụ thể (ở ven biển hoặc trên đảo). Tránh bệnh hội chứng (copy style) trong phát triển đôi khi vẫn gặp hiện nay, ví như cách "bê một mảnh vỡ" của một khu đô thị cũ ven biển ra đặt ở một hòn đảo có thiên nhiên hoang dã, phá vỡ giá trị và tính bền vững của không gian đảo,...
 
Đảo được ví như “viên ngọc xanh trên nền biển bạc”, là địa điểm phát triển đô thị đảo tiềm năng, trong chừng mực nhất định, cũng đang vấp phải những vấn đề cụ thể mà chỉ có đặt vào tổng thể mới tháo gỡ được. Điều này, trong chừng mực nhất định, có thể thấy ở các cụm đảo Cô Tô, Vân Đồn (Quảng Ninh), quần đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu),...
 
Giá trị thực sự lâu dài của đảo Phú Quốc, dù là đảo rất lớn, vẫn nằm ở các hòn đảo vệ tinh, cách “đảo mẹ Phú Quốc” trong vòng 3 - 5 km, nơi có những rạn san hô ngầm, các bãi cỏ biển mượt mà với các quần xã sinh vật biển đa dạng, phong phú, các bãi cát nhỏ viền quanh, cũng như các gò ngầm lờ mờ rất đẹp dưới làn nước biển xanh dài ngắn khác nhau. Chính các giá trị tự nhiên biển ngoại hạng như vậy mới tạo cho đảo ngọc Phú Quốc sự hấp dẫn đến lạ thường. Dường như, tính chất hoang sơ của biển bạc và đời sống hoang dã của các loài sinh vật biển vẫn chưa được đánh giá đúng chân giá trị của nó, mà có vẻ các giá trị trước mắt của “đất vàng” trên đảo vẫn hấp dẫn không chỉ các nhà đầu tư “nâu” mà còn cả một số nhà hoạch định chính sách và quy hoạch. Cách nghĩ, cách làm như thế sẽ hướng đến các quyết định lấn biển bằng mọi giá để tạo thêm quỹ đất cho đảo chính, không hoặc ít chú trọng gìn giữ, bảo vệ các nguồn vốn và tài sản tự nhiên vốn có, các “giá trị để đời” của biển, trong thực tế có biểu hiện tiêu hao.
 
Đô thị nổi trên biển, nét chấm phá dự báo tương lai!
 
Ngoài phát triển chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo nói trên, đã đến lúc các địa phương ven biển phải chú ý đến phát triển đô thị trên biển (đô thị nổi trên biển hoặc đô thị kết nối các đảo nhỏ trong một cụm đảo). Đâu đó chúng ta đã nghe có phương án xây dựng cảng nổi, đảo nổi ở vùng biển Tây Nam- mầm mống của các đô thị trên biển trong tương lai gần. Quảng Ninh có thế mạnh về biển rất lớn, cả về văn hóa biển và ngay từ thời xưa cha ông ta đã xây dựng cảng Vân Đồn ngoài biển xa (ven đảo Quan Lạn), nhưng nay tỉnh vẫn đứng trước sự lựa chọn vị trí "cảng biển" tương lai theo đúng nghĩa của nó, còn hiện giờ Tp Hạ Long đang phát triển dựa vào bờ và gắn với cảng vĩnh nông (Cửa Lục).
 
Bài toán mà Quảng Ninh phải giải là thay đổi tư duy và tầm nhìn dài hạn, tái cơ cấu kinh tế biển dựa vào việc cân bằng giữa lấn biển để mở rộng quỹ đất và tìm cách “tiến ra biển” bằng đầu tư bất động sản, với ưu tiên đầu tư phát triển các ngành kinh tế dựa vào bảo tồn biển (conservation-based economy). Nếu như vậy, thành phố Hạ Long không còn là mô hình “Đô thị - cảng biển”, mà là “đô thị xanh, thông minh, đa dụng”, còn Quảng Ninh vẫn thừa “dư địa” để tiên phong xây dựng một hình mẫu “Đô thị biển - đảo” gắn với cảng biển nước sâu ven đảo (có thể là cảng Hòn Nét) và một hệ thống cầu - đường vượt biển hợp lý, phù hợp với xu hướng phát trển cảng biển trên thế giới,chứ không phải cảng sông hay cảng vịnh nhỏ đang bị thu hẹp và “nông hóa”như cảng Cái Lân.
 
Song, để tạo được đột phá thực sự từ phát triển kinh tế biển, đảo, Trong quá trình phát triển các loại hình đô thị biển cần:Công nhận và sử dụng khôn khéo các gía trị của cảnh quan thiên nhiên và các hệ sinh thái biển, đảo như là nguồn “vốn phát triển” dài hạn; Thiết kế và lựa chọn các hình mẫu kiến trúc đô thị xanh, thân thiện với tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, phù hợp văn hóa bản địa. Không để sự phát triển ngăn cách thiên nhiên với đô thị và con người của nó.
 
Quan tâm, tận dụng các giá trị về lợi thế so sánh, tính trội, sự khác biệt và tính liên kết của một khu đô thị trong quá trình phát triển, không làm suy thoái, lãng phí tài sản tự nhiên biển, đảo và vùng ven biển.
 
Xác định mô hình đô thị biển như là một “Hệ sinh thái” có đầy đủ chức năng và cấu trúc của một hệ sinh thái tự nhiên, và vai trò không thể tách rời của con người. Mô hình vừa hiện đại, vừa dân tộc; bảo đảm an ninh, an toàn và an sinh; và vừa có tính đặc thù vùng miền cho một đô thị ven biển, đô thị đảo hay đô thị trên biển.
 
Chú ý làm rõ chức năng trung tâm của hệ sinh thái đô thị biển đa chiều; thông qua tương tác đa chiều, đô thị kiểu này hội tụ các nguồn lực, các dòng vật chất cả bên trong lẫn bên ngoài, và cứ thế phát triển. Khi đó, đô thị mới có thể phát huy được khả năng tích tụ, không chỉ đối với đất đai mà còn đối với dân số biển đảo, gia tăng nhu cầu nội vùng (cầu) và tạo động lực (cung) phát triển kinh tế của chính đô thị và vùng chung quanh.
 
Cuối cùng, cần xác định tính trội của một hệ sinh thái đô thị biển đa chiều - là một trong 3 thuộc tính vốn có trong mỗi hệ thống (tự nhiên và nhân sinh): Tính trội, tính đa dụng và tính liên kết (liên kết nội tại và liên kết vùng). Đây là 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong xây dựng phương pháp luận về mô hình phát triển hệ sinh thái đô thị biển đa chiều.
 
Nghiên cứu mô hình hệ sinh thái đô thị biển đa chiều cần được đặt vào bối cảnh một vùng ven biển hoặt một vùng biển - đảo cụ thể ở Việt Nam. Khu vực ven biển luôn được hiểu là bàn đạp để "tiến ra" biển, còn con người rất nhỏ bé khi hiện diện trong không gian biển rộng lớn. Hệ thống quần đảo của Việt Nam phân bố rộng từ bắc vào nam hình thành một thế trận kinh tế - quốc phòng trên biển rất hữu dụng. Tuy nhiên, đến nay liên kết phát triển vùng giữa vùng ven biển, các hệ thống đảo/cụm đảo và các vùng biển còn rất hạn chế. Do đó, việc đầu tiên cần nghiên cứu, xem xét là tái cơ cấu chuỗi đô thị ven biển, định hướng phát triển chuỗi đô thị đảo và đánh giá tiềm năng xây dựng đô thị trên biển đặt trong khuôn khổ tổ chức lại không gian kinh tế biển.
 
Như nói trên, dường như chúng ta vẫn đang đứng ở ven biển, chưa phát triển đô thị đảo và đô thị trên biển. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, cần phải “mạo hiểm” tiến ra biển lớn bằng việc sớm hoàn thiện các chuỗi đô thị biển để góp phần khẳng định thế đứng của một “Quốc gia biển” chứ không phải “Quốc gia ven biển”.
 
Nguồn: monre.gov.vn
 

 

Các tin mới hơn