Về trang chủ


03/12/2019

Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone)

 

Trên cơ sở Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS) và các tập quán quốc tế, qua các thảo luận, đàm phán thương lượng tại các Hội nghị Luật biển do Liên hợp quốc tổ chức, các quy định về Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone) đã được thông qua, quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Vùng tiếp giáp lãnh hải là một trong 07 vùng biển được quy định quy chế pháp lý trong UNCLOS (gồm: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa, Vùng và Biển cả).
 
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài Lãnh hải và tiếp liền với Lãnh hải. Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của Lãnh hải (Điều 33UNCLOS).Theo quy định của UNCLOS, có thể hiểu phạm vi Vùng tiếp giáp lãnh hải bắt đầu được tính từ đường ranh giới bên ngoài của Lãnh hải - biên giới của quốc gia ven biển - hợp với Lãnh hải thành vùng biển rộng không quá 24 hải lý. Như vậy, nếu quốc gia quy định phạm vi Lãnh hải của mình rộng 6, 8 hoặc 12 hải lý, thì Vùng tiếp giáp lãnh hải mà quốc gia đó được hưởng theo quy định của UNCLOS tương ứng có thể tối đa là 18, 16 hoặc 12 hải lý.
 
Nguồn gốc sự ra đời của Vùng tiếp giáp lãnh hải xuất phát từ nhu cầu kiểm soát thuế quan, chống lại các hoạt động buôn lậu và đảm bảo an ninh trên vùng biển của các quốc gia ven biển.
 
Trước khi có UNCLOS, theo Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS), Vùng tiếp giáp lãnh hải là một phần của biển cả và không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Đến Hội nghị UNCLOS III, các quốc gia đồng ý Lãnh hải rộng 12 hải lý và xác lập thêm Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), do đó đẩy Biển cả ra xa khỏi đường cơ sở tối đa 200 hải lý. Điều này dẫn đến quy định Vùng tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của Lãnh hải tại Điều 33 của UNCLOS. Tuy nhiên, có điểm đáng lưu ý là về bản chất pháp lý, Vùng tiếp giáp lãnh hải theo quy định tại Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS) là một phần của Biển cả; còn Vùng tiếp giáp lãnh hải theo quy định tại UNCLOS nằm trong Vùng đặc quyền kinh tế, không phải là một vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và cũng không phải là vùng biển có quy chế tự do biển cả.Cũng theo đó, Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển có phạm vi chồng lấn với Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa.
 
Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS) tại Điều 24 quy định quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại Vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm: (i) Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong Lãnh hải của mình; (ii) Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong Lãnh hải của mình.
 
Trong UNCLOS chỉ có 3 điều quy định thực chất đến quy chế của Vùng tiếp giáp lãnh hải là Điều 33, Điều 111 và Điều 303.
Tại Điều 33 của UNCLOS cũng quy định các nội dung như tại Điều 24 Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS) đối với Vùng tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, UNCLOS đã mở rộng thêm quyền của quốc gia ven biển đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổtrong Vùng tiếp giáp lãnh hải (tại Điều 303). Theo đó, UNCLOS quy định mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc Vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của quốc gia ven biển đều được coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong Lãnh hải của quốc gia đó.
 
Đây là vùng biển có vẻ ít được các quốc gia quan tâm, cho đến gần đây chỉ có khoảng 90 quốc gia xác lập vùng tiếp giáp lãnh hải.Tuy nhiên, từ sau khi UNCLOS được thông qua đã có ngày càng nhiều quốc gia xác lập vùng biển này.Có hai nguyên nhân chính cho điều này, đó là vấn đề liên quan đến vận chuyển, mua bán chất ma túy đặt ra yêu cầu các quốc gia ven biển phải tăng cường các biện pháp ngăn chặn trên biển và do sự phát triển của khoa học kỹ thuật liên quan đến trục vớt cổ vật dưới biển.
 
Trong Vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền quy định biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về hải quan, thuế khóa, y tế, nhập cư xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình.
 
Theo quy định của UNCLOS, quốc gia ven biển có thẩm quyền ngăn chặn và trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật quốc gia trong lãnh thổ hay Lãnh hải của mình đối với bốn lĩnh vực là hải quan, thuế khóa, y tế, nhập cư. Thẩm quyền này giới hạn về lĩnh vực và phạm vi lãnh thổ và các biện pháp ngăn chặn hay trừng phạt chỉ có thể thực hiện nếu vi phạm đã xảy ra hay chuẩn bị xảy ra trong lãnh thổ hay Lãnh hải của quốc gia ven biển. Điều này cho thấy mục đích của việc xác lập Vùng tiếp giáp lãnh hải khác hẳn với Lãnh hải hay Vùng đặc quyền kinh tế. Quy định về Vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm mục đích tăng cường phạm vi hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật của quốc gia ven biển.
 
Nếu không có Vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển sẽ không thể cưỡng chế trừng phạt các vi phạm của tàu thuyền vi phạm của nước ngoài khi tàu này chạy ra khỏi phạm vi Lãnh hải. Đồng thời quốc gia ven biển cũng sẽ rất khó chủ động ngăn chặn các vi phạm có thể xảy ra khi không thể có biện pháp từ xa chống lại các tàu thuyền có ý định vi phạm. Chủ quyền của quốc gia ven biển chấm dứt tại ranh giới ngoài của Lãnh hải, do đó nếu không có Vùng tiếp giáp lãnh hải, mọi hoạt động chấp pháp về hải quan, thuế khóa, y tế, nhập cư đều phải dừng lại tại trong phạm vi Lãnh hải. Việc xác lập Vùng tiếp giáp lãnh hải mở rộng tầm với của lực lượng chấp pháp, tăng cường khả năng truy bắt tàu thuyền vi phạm cũng như đẩy các tàu thuyền có ý định vi phạm ra xa bờ biển hơn, qua đó ngăn chặn tốt các vi phạm hơn.
 
Theo quy định tại Điều 111 của UNCLOS, quốc gia ven biển có thể truy đuổi tàu thuyền vi phạm trong các lĩnh vực trên vượt xa hơn hẳn phạm vi Vùng tiếp giáp lãnh hải, với điều kiện việc truy đuổi bắt đầu xa nhất là trong Vùng tiếp giáp lãnh hải. Quyền truy đuổi này chỉ áp dụng khi quốc gia ven biển có cơ sở hợp lý để tin rằng rằng tàu đã vi phạm pháp luật và quy định của quốc gia đó.
 
Trong Vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền trục vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử.
 
Theo quy định tại Điều 303 của UNCLOS, việc trục vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử khỏi đáy biển trong Vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có sự chấp thuận của quốc gia ven biển sẽ được giả định dẫn đến vi phạm các quy định trong các lĩnh vực nêu trong Điều 33 của UNCLOS trong lãnh thổ hay Lãnh hải của quốc gia ven biển. Như vậy,UNCLOS trao cho quốc gia ven biển quyền đối với việc trục vớt các hiện vật khảo cổ và lịch sử này để bảo vệ các cổ vật này trước việc trục vớt và mua bán không phù hợp. Bên cạnh đó, Điều 303 của UNCLOS cũng quy định rằng quyền của quốc gia ven biển không ảnh hưởng đến các quyền của chủ sở hữu cổ vật, luật về trục vớt hay các quy định khác về hàng hải, luật pháp và thực tiễn liên quan đến trao đổi văn hóa, cũng như các thỏa thuận quốc tế hay quy định của luật quốc tế liên quan đến bảo vệ các cổ vật này. Như vậy, quyền của quốc gia ven biển không phải là quyền sở hữu mà chỉ là quyền bảo đảm các hiện vật khảo cổ và lịch sử được trục vớt theo cách thức không ảnh hưởng đến cổ vật và quản lý tốt việc mua bán cổ vật này.
 
Đối với Việt Nam, trong tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ:Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải  Việt Nam.Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, bảo đảm sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
 
Tuyên bố trên của Chính phủ nước ta về Vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1977 và tiếp tục được khẳng định và cụ thể hóa trong Luật biên giới quốc gia năm 2003 và Luật biển Việt Nam năm 2012 là hoàn toàn phù hợp với các quy định củaUNCLOS về Vùng tiếp giáp lãnh hải./.
 
Nguyễn Thanh Tùng - Vụ trưởng Vụ CS&PC

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam