Về trang chủ


21/11/2018

Sự cần thiết gia nhập Nghị định thư Luân Đôn 1996 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm đối với Việt Nam

Nghị định thư Luân Đôn 1996 (Nghị định thư liên quan tới Công ước Luân Đôn 1972 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm các chất thải và các chất khác) được thông qua ngày 07/11/1996 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh; có hiệu lực từ ngày 24/3/2006. Đến nay, đã có 51 quốc gia là thành viên của Nghị định thư.

Nghị định thư có 29 Điều và 3 Phụ lục, được đánh giá là một điều ước quốc tế hiện đại và toàn diện ở phạm vi toàn cầu nhằm ngăn ngừa và loại bỏ ô nhiễm môi trường biển do nhận chìm ở biển.

 
 Ngày 25/7/1994, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 63 của Công ước Luật biển 1982; với tư cách là thành viên của Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng các điều khoản của Công ước và phải thực hiện các cam kết quốc tế của mình, trong đó có các quy định về quản lý nhận chìm ở biển. Theo quy định tại Điều 210 của Công ước, các thành viên, về mặt pháp lý bắt buộc phải ban hành các điều luật ở cấp quốc gia và thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nhận chìm gây ra; các điều luật, biện pháp quốc gia không được kém hiệu lực hơn các quy tắc và quy phạm có tính chất thế giới để ngăn ngừa, hạn chế và kiểm soát sự ô nhiễm này. Điều 210 của Công ước cũng yêu cầu các quốc gia cố gắng thông qua trên phạm vi thế giới và khu vực các quy tắc và quy phạm cũng như tập quán và thủ tục để ngăn ngừa, hạn chế và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nhận chìm.
 
Vì vậy, việc gia nhập Nghị định thư Luân Đôn 1996 là hành động tích cực thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước Luật biển 1982; Nghị định thư sẽ bổ sung, tăng cường việc thực thi các điều khoản đã được Việt Nam ký kết trong Công ước Luật biển 1982 và đây cũng là hành động giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong nỗ lực bảo vệ môi trường biển nói riêng, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Trái đất nói chung.
 
Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra định hướng và giải pháp hội nhập trong các lĩnh vực, trong đó nêu rõ “Tích cực tham gia các thể chế hợp tác về môi trường, đóng góp vào nỗ lực chung trong quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường; phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, nguồn nước, động vật, thực vật ở nước ta và trên thế giới”, “Tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, tiếp thu tri thức, nhất là tri thức về quản lý và khoa học và công nghệ”. Việc Việt Nam gia nhập Nghị định thư Luân Đôn 1996 là hoàn toàn phù hợp và để triển khai định hướng chiến lược nêu trên; đồng thời góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững (SDG) về môi trường, đó là “Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển - SDG14” thuộc Chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030 của Liên hợp quốc.
 
Trở thành thành viên của Nghị định thư là cơ hội để Việt Nam tham gia cùng cộng đồng quốc tế thực hiện một thỏa thuận toàn cầu về kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm biển bởi hoạt động nhận chìm. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Việc xem xét, gia nhập Nghị định thư đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Việt Nam cần sự hợp tác, hỗ trợ của các quốc gia, cộng đồng quốc tế trong phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm biển bởi hoạt động nhận chìm và việc quản lý hoạt động nhận chìm ở biển. 
 
Khi gia nhập Nghị định thư Luân Đôn 1996, các thành viên có nghĩa vụ phải tuân thủ tất cả các quy tắc và quy định được quy định trong Nghị định thư và có được những quyền của quốc gia thành viên. Bên cạnh các nghĩa vụ ràng buộc đối với quốc gia thành viên mà Việt Nam sẽ phải thực hiện, Nghị định thư sẽ mở ra các lợi ích thiết thực mà quốc gia thành viên được hưởng, đặc biệt là nước đang phát triển như Việt Nam. Gia nhập Nghị định thư là cơ hội để Việt Nam xây dựng khuôn khổ hợp tác quốc tế, hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ nhiều quốc gia thành viên khác cũng như các nhà khoa học có chuyên môn sâu trong lĩnh vực nhận chìm cũng như bảo vệ môi trường biển, tiếp cận những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới, cũng như các chương trình nghiên cứu và phát triển do IMO triển khai liên quan đến nhận chìm ở biển nhằm trang bị cho chúng ta sự sẵn sàng cần thiết để tìm kiếm những giải pháp ứng phó với tình trạng ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên biển và đại dương.
 
Biển và đại dương là môi trường liên thông, vấn đề ô nhiễm môi trường biển, trong đó có ngăn ngừa ô nhiễm do nhận chìm không phải là vấn đề riêng của mỗi quốc gia nào mà đòi hỏi sự tham gia của tất cả các quốc gia cùng chung tay nỗ lực thực hiện vì lợi ích của mỗi quốc gia cũng như của toàn thể nhân loại. Trong bối cảnh và xu hướng chung đó, việc gia nhập Nghị định thư Luân Đôn 1996, điều ước quốc tế toàn cầu, tiến bộ về quản lý nhận chìm ở biển là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam./.
 
Vụ Chính sách và Pháp chế
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam