Về trang chủ


24/12/2018

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ biển và hợp tác quốc tế

Theo báo cáo của Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2018 và phương hướng triển khai nhiệm vụ năm 2019, báo cáo đã nêu bật được các vấn đề cũng như thực trạng công tác quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời đề ra phương hướng triển khai nhằm đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ và tăng cường năng lực hợp tác quốc tế của Tổng cục trong giai đoạn tiếp theo.


Trong giai đoạn năm 2007- 2018, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tích cực xây dựng, triển khai các dự án hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển. Các nhiệm vụ hợp tác quốc tế được lồng ghép thực hiện trong các dự án. Cùng với đó, hoạt động quản lý khoa học và công nghệ diễn ra theo đúng kế hoạch gồm và bám sát Thông tư Số 66/2017/TT-BTNMT ngày 22/12/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi Trường Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Có thể nói, trong thời gian qua, công tác khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế về biển đã được Tổng cục đặc biệt quan tâm, chú trọng.

 

TK Vụ HTQT

 Hội nghị Tổng kết công tác khoa học, công nghệ, hợp tác quốc tế năm 2018 và phương hướng triển khai nhiệm vụ năm 2019 của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam


TẬP TRUNG NGUỒN LỰC, ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ:

Từ năm 2010, chỉ một thời gian rất ngắn ngay sau khi Tổng cục được thành lập, Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Bộ lĩnh vực biển và hải đảo “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015” (Chương trình TNMT.06.10-15) đã ra đời và đã đạt được những kết quả quan trọng. Với 21 đề tài, nhiệm vụ với sản phẩm cụ thể được nghiệm thu đã cụ thể hóa và đáp ứng được các mục tiêu, nội dung và các yêu cầu mà khung chương trình đề ra.


Đặc biệt, nhiều đề tài đã góp phần nâng cao vai trò quản lý tổng hợp về biển và hải đảo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Nhìn chung, đa số các đề tài đều thực hiện nghiêm túc, có tính khoa học trên cơ sở kế thừa các vấn đề khoa học trước đây cũng như tính mới, tính hiện đại của khoa học hiện tại. Các đề tài đã tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế để rút ra các bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam. Kết quả, sản phẩm của hầu hết các đề tài đều có khả năng áp dụng vào thực tiễn và có cơ sở khoa học để phục vụ công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo.


Trong đó, Nhiều đề tài đã đạt được những kết quả vượt chỉ tiêu đề ra, đặc biệt là về công bố và đào tạo. Một số đề tài có tính chất sáng kiến, sản xuất, chế tạo thiết bị đã thể hiện được những bước tiến đáng kể trong khoa học và công nghệ, góp phần phục vụ thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên- môi trường biển, hải đảo và đáp ứng mục tiêu của Chương trình. Bên cạnh đó các đề tài cũng đã đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.


Đến năm 2016, tiếp ngay sau Chương trình TNMT.06.10-15, Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Bộ “Khoa học và công nghệ về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2016 - 2020” (Chương trình TNMT.06/16-20) đã được xây dựng và hiện đang được triển khai.


Việc ra đời Chương trình TNMT.06/16-20 tuy là sự tiếp nối của các nghiên cứu KHCN cấp Bộ về lĩnh vực biển và hải đảo, nhưng lại là một bước tiến lớn trong công tác nghiên cứu và quản lý nghiên cứu KHCN của Tổng cục. Nhiều mục tiêu và nội dung nghiên cứu của Chương trình TNMT.06/16-20 đã được nâng tầm, gắn bó gần gũi và có tính thực tiễn cao hơn đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển. Cụ thể là chương trình đã chú trọng đến các giải pháp phòng chống ô nhiễm, ứng phó các sự cố môi trường và tai biến thiên nhiên trên biển, bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái biển và hải đảo cũng như hướng tới việc thực hiện các đột phá chiến lược đã được xác định trong Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Hiện tại trong khuôn khổ Chương trình đã có 29 đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu được phê duyệt triển khai trong đó có 2 đề tài đã kết thúc.


Công tác thực hiện các nhiệm vụ “Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quy định kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật và Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015” cũng được Tổng cục đặc biệt quan tâm, chú trọng . Đặc biệt, trong số gần 20 Quy định kỹ thuật đối với các dạng công tác thuộc lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thì có 12 Thông tư là kết quả của các nhiệm vụ KHCN của Tổng cục.


Hiện nay, tại Tổng cục đã có 26 ISO 9001:2008 đã được xây dựng. Năm 2018, Tổng cục thực hiện xây dựng mới 12 và chuyển đổi 26 bộ (đã xây dựng) sang TCVN ISO 9001:2015.


Trong công tác xây dựng Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN), Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN), từ năm 2017, Tổng cục được giao xây dựng 03 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia: (1) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc khí tượng biển trong điều tra hải văn ngoài khơi bằng tàu biển; (2) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đo đạc thủy văn biển trong điều tra hải văn ngoài khơi bằng tàu biển; (3) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vận hành và sử dụng hệ thống trạm radar biển cho trạm ven bờ. Đến nay, các dự thảo này đã được gửi xin ý kiến các tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định, cũng như đã đăng Dự thảo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trên trang web đề nghị góp ý Dự thảo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Hiện nay, Tổng cục đang làm thủ tục trình Bộ TNMT xem xét thẩm định.


Các hoạt động HTQT trong nghiên cứu KHCN được đẩy mạnh: Tổng cục là tổ chức đầu mối KHCN biển với ASEAN (ASEAN- COST), các hoạt động thường xuyên, thường niên đều được Tổng cục triển khai đầy đủ, cụ thể có hiệu quả góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam về KHCN biển trong khu vực. Năm 2018, Với kinh phí cấp từ nguồn khoa học, công nghệ, Tổng cục đã có 01 lãnh đạo Tổng cục và 01 chuyên viện của Vụ KHQT tế tham gia Hội nghị đại dương của chúng ta tại Bali, In-đô-nê-xia từ ngày 29 đến 30 tháng 10 năm 2018. Thông qua các đề tài, nhiệm vụ KHCN, các hoạt động HTQT, hội nghị hội thảo khoa học, Tổng cục đã tích cực phối hợp nghiên cứu với các cơ sở nghiên cứu của các nước có thế mạnh và tiềm năng về KHCN biển nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và được triển khai thường xuyên liên tục.



TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO GẮN LIỀN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:

Trong bối cảnh chung về  hội nhập quốc tế trên biển, quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong ba thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước. Hiện nay, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết.


Theo Ngân Hàng Thế Giới (WB), công cuộc Đổi mới kinh tế và chính trị bắt đầu triển khai từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới 100 đô la Mỹ, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng 25 năm với thu nhập đầu người lên tới 2.385 đô la Mỹ vào cuối năm 2017 (số liệu được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố). Đây là một tín hiệu đáng mừng đối với Việt Nam nói chung tuy nhiên điều này cũng đem lại những thách thức không nhỏ liên quan đến các nguồn hỗ trợ và tài trợ không hoàn lại từ nước ngoài và quốc tế cho các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tài nguyên và môi trường.


Đối với hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam luôn thực hiện tốt nghĩa vụ và nhiệm vụ của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế và khu vực mà Chính phủ giao làm cơ quan đầu mối, theo dõi.


Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò to lớn của biển đối với sự phát triển kinh tế-xã hội gắn liền với an ninh, quốc phòng của đất nước, cùng với đó là thực trạng ô nhiễm biển ở nước ta hiện nay, trong thời gian qua, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh, tăng cường năng lực hợp tác quốc tế về biển. Hoạt động hợp tác quốc tế về biển của Tổng cục đã có nhiều khởi sắc và bước đầu đạt được những thành tựu nổi bật, đáng khích lệ. Cùng với đó, công tác kiểm soát tài nguyên, bảo vệ môi trường biển hải đảo được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong quá trình hội nhập và phát triển.


Hợp tác quốc tế về biển tập trung vào các lĩnh vực:

1. Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển: Trong giai đoạn năm 2007- 2018, Tổng cục đã tích cực xây dựng, triển khai các dự án hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển. Các nhiệm vụ hợp tác quốc tế được lồng ghép thực hiện trong các dự án.


2. Quản lý khai thác và kiểm soát tài nguyên môi trường biển: Các nhiệm vụ cụ thể đã được triển khai trong phạm vi các chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ và Kế hoạch thực hiện Tuyên bố chung và Chương trình khung giữa Việt Nam, Campuchia, Thái Lan về hợp tác sẵn sàng ứng phó sự cố tràn dầu vùng Vịnh Thái Lan, Kế hoạch  thực hiện Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước Cộng hòa Phi-lip-pin về hợp tác trong lĩnh vực ứng phó sự cố tràn dầu trên biển.
 

3. Hợp tác, ngoại giao với các nước trong khu vực Biển Đông và nước có tiềm lực về kinh tế, khoa học- công nghệ biển: Tổng cục đã tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực Biển Đông và các nước có tiềm lực về kinh tế và khoa học - công nghệ biển. Các hoạt động hợp tác này góp phần giảm thiểu căng thẳng và duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và trong khu vực. Ngoài Trung Quốc và ASEAN, Tổng cục cũng đã chủ động tìm kiếm đối tác, thúc đẩy hợp tác với Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ đối với quan điểm của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương về vấn đề Biển Đông.


4. Tham gia các công ước, điều ước quốc tế về biển: Trong giai đoạn năm 2007- 2018, theo phân công của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục đã chủ động tham gia các nhiệm vụ liên quan việc đàm phán, ký kết các công ước, điều ước quốc tế về biển như: Thể chế hóa và thực thi các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 bằng việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; Nghiên cứu tham gia Nghị định thư London 1996 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do hoạt động đổ chất thải và các chất khác và một số công ước, điều ước quốc tế khác.


Các hình thức và nội dung hợp tác:

Hợp tác song phương: Tổng cục đã triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế với một số nước Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Philipines, Campuchia, Thái Lan, trong lĩnh vực quản lý tổng hợp, nghiên cứu khoa học, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo được ưu tiên thực hiện và đạt một số thành tựu nhất định.


Hợp tác đa phương: Hợp tác với ASEAN về pháp luật và một số nội dung có liên quan khác: Hợp tác khoa học công nghệ ASEAN, tham gia Tiểu ban Khoa học và công nghệ biển thuộc Ủy ban Khoa học và Công nghệ ASEAN (ASEAN- COST); Hợp tác với Tổ chức đối tác về quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA);  Cơ quan Điều phối các biển Đông Á (COBSEA); Hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Rừng ngập mặn cho tương lai (MFF); Cơ quan quyền lực đáy đại dương (ISA).

 

ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC HỢP TÁC QUỐC TẾ:

Về công tác khoa học, công nghệ

Tiếp tục tăng cường nghiên cứu khoa học về điều tra cơ bản biển và hải đảo; Tăng cường nghiên cứu kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; Nghiên cứu ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Nghiên cứu nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu hoa học về tài nguyên, môi trường biển.


Quan điểm định hướng hợp tác quốc tế

Đổi mới hoạt động hợp tác quốc tế theo chủ trương, đường lối và chính sách hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước, gắn với tình hình thực tế; Tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các đối tác nước ngoài và quốc tế; Tăng cường hội nhập quốc tế.
 

Tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm

1. Nâng cao năng lực hợp tác quốc tế và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của ngành tài nguyên và môi trường:  Hợp tác chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan (đặc biệt là Bộ Ngoại giao) để thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế trên vùng biển Việt Nam và cả các vùng biển quốc tế và thực hiện tốt vai trò cơ quan đầu mối hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực.

Tập trung ưu tiên: Các nội dung, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, điều tra, khai thác, sử dụng và kiểm soát tài nguyên môi trường  biển và hải đảo; Công tác lập, phê duyệt, thực hiện và đánh giá quy hoạch không gian biển quốc gia góp phần phát triển kinh tế biển, đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng và chủ quyền của Việt Nam trên biển; Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đánh giá rủi ro và ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của ngành tài nguyên và môi trường: Chú trọng phát triển nhân lực, tăng cường năng lực chuyên môn, nhất là năng lực về hợp tác quốc tế (đàm phán, tham gia các dự án hợp tác quốc tế...), năng lực tham gia và giải quyết các vấn đề tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững biển và hải đảo đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của của ngành Tài nguyên và Môi trường, lĩnh vực biển và hải đảo nói riêng, và của đất nước nói chung; Đào tạo tăng cường năng lực hợp tác quốc tế, tăng cường năng lực tham gia và giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển bền vững trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do đáp ứng nhu cầu và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của ngành,…


2. Tăng cường năng lực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, trọng tâm các lĩnh vực sau đây: Quy hoạch quản lý không gian biển, quản trị đại dương, quản lý tổng hợp vùng bờ; Quản lý rác thải nhựa đại dương, kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, đánh giá rủi ro và ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển; Phát triển nền kinh tế biển xanh bền vững dựa vào đại dương; Nghiên cứu khoa học, công nghệ biển.
 


Thu Loan