Về trang chủ


15/01/2019

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Tổng kết công tác năm 2018 và triển khai chương trình công tác năm 2019

Chiều ngày 15/01, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2018 và triển khai kế hoạch năm 2019. Tham dự Hội nghị có nguyên Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Tổng cục. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Quý Kiên tham dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.


Báo cáo tại Hội nghị, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Tạ Đình Thi cho biết, năm 2018, Tổng cục đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo Chương trình công tác năm 2018 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Kết quả đó đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác quản lý nhà nước vể tài nguyên, môi trường biển trên cả nước, nâng cao vị thế, vai trò của Tổng cục và của Bộ.

TCT TA DINH THI

Tổng cục trưởng Tạ Đình Thi báo cáo tại Hội nghị


Với sự chỉ đạo sâu sát của Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Bộ, trực tiếp và thường xuyên của Bộ trưởng Trần Hồng Hà và Thứ trưởng Trần Quý Kiên, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã bám sát phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, để xây dựng và triển khai Chương trình công tác năm 2018 với nhiều nội dung trọng tâm và đã đạt được một số kết quả nổi bật.


Tổ chức thành công công tác tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và xây dựng, trình Hội nghị Trung ương 8 khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.


Xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, Tổng cục đã tập trung nguồn lực và trí tuệ để triển khai một khối lượng lớn công việc liên quan, nhiều việc quan trọng, khó, phức tạp và phải huy động lực lượng lớn các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý, có sự phối hợp sâu rộng của các cấp, các ngành. Nhiệm vụ đã được hoàn thành tốt được các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường và dư luận biểu dương và đánh giá cao kết quả công tác của Tổng cục.


Nghị quyết số 36-NQ/TW ra đời là mốc son quan trọng trong chính sách biển của nước ta, lần đầu tiên được công khai với toàn dân và thế giới, tiếp tục khẳng định những thành quả cơ bản thời gian qua, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, trong công tác quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên, phát triển kinh tế biển, đặc biệt đề ra những quan điểm, chủ trương lớn, các khâu đột phá và các nhóm giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển cho nước ta đến năm 2045, thể hiện tư duy tiếp cận những tri thức mới của nhân loại, đi cùng thời đại trong chính sách đại dương.


Rà soát, đánh giá và tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Ngay từ đầu năm, Tổng cục đã chủ động dự thảo văn bản gửi các bộ, ngành, địa phương có biển rà soát, đánh giá tình hình thực tiễn và nêu các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các văn bản hướng dẫn thi hành và đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nhất là trong công tác nhận chìm, giao khu vực biển,… Trên cơ sở đó, Tổng cục đã tiến hành đề xuất Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 và giai đoạn 2019 – 2021.


Bên cạnh đó, Tổng cục đã triển khai nghiêm túc việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch năm 2018, cơ bản bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu; cụ thể đã tham mưu với Bộ trình Chính phủ: đề xuất xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về lấn biển, dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 14/2018/QĐ-TTg ngày 12/3/2018 về Quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trên vùng biển Việt Nam; trình Bộ trưởng ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BTNMT ngày 15/11/2018 về ban hành định mức kinh tế kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000; Thông tư số 33/2018/TT-BTNMT ngày 26/12/2018 quy định kỹ thuật về khắc phục sự cố môi trường do dầu tràn trên biển.


Công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo được chú trọng và chỉ đạo quyết liệt, tháo gỡ cơ bản những khó khăn, vướng mắt trước mắt, bước đầu thiết lập nền tảng quản lý cho lâu dài


Về công tác quản lý điều tra cơ bản và xây dựng cơ sở dữ liệu biển và hải đảo:

Tổng cục đã tập trung tiến hành tổng kết bước đầu 10 năm thực hiện Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên – môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 47), đã hoàn thành, trình Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ Báo cáo tổng kết; đang tích cực chuẩn bị Hội nghị tổng kết Đề án 47 do Phó Thủ tướng, Trưởng ban Chỉ đạo Đề án chủ trì và xây dựng dự thảo Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030. Đồng thời, để có cơ sở đánh giá, lựa chọn các dự án mang tính vừa cấp bách, vừa lâu dài, phù hợp với khả năng đầu tư nguồn lực của Nhà nước, Tổng cục đã dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tiêu chí đánh giá, lựa chọn các dự án đưa vào Chương trình. Dự thảo Quyết định đang gửi lấy ý kiến của Bộ, ngành, địa phương có liên quan.


Đẩy mạnh thực hiện các dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản và xây dựng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển, bước đầu đã triển khai ở các vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề, cụ thể đã thành lập hải đồ tỷ lệ 1:200.000 với khoảng 82% diện tích các vùng biển Việt Nam; hoàn thành điều tra địa hình đáy biển khoảng 24,5% diện tích vùng biển Việt Nam ở các tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:50.000; đã tiếp nhận, xử lý 02 hồ sơ đề nghị cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, trong đó đã cấp phép hoạt động nghiên cứu khoa học cho Tàu Oparin (Nga).


Về cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển và hải đảo đã được đưa vào khai thác, sử dụng và bước đầu phát huy hiệu quả. Tổng cục đang xây dựng và hoàn thiện khung cơ sở dữ liệu địa phương phục vụ đồng bộ cơ sở dữ liệu giữa Trung ương và địa phương.


Công tác quản lý khai thác biển và hải đảo:

Tổng cục đã chủ động rà soát, kế thừa các kết quả từ Đề án quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam để điều chỉnh, xây dựng Nhiệm vụ lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, Nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Hoàn thành và trình Bộ công bố đường ranh giới cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm theo vĩ tuyến một khoảng cách 03 hải lý, danh mục các điểm có giá trị đặc trưng triều vùng ven biển Việt Nam và 10 đảo, cụm đảo lớn của Việt Nam phục vụ cho việc thiết lập, quản lý hành lang bảo vệ bờ biển.


Tăng cường theo dõi, đôn đốc, đánh giá tình hình triển khai các nhiệm vụ trong Kế hoạch hành động theo Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quyết định số 914/QĐ-TTg ngày 27/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược; đang khẩn trương hoàn thiện và trình Bộ Báo cáo tình hình triển khai thực hiện. Đã tham mưu, xây dựng Bộ trình Chính phủ ban hành Mục 15, Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2018 về một số vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về nhận chìm, giao khu vực biển để nhận chìm; đồng thời, hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc giao khu vực biển để nhận chìm vật chất nạo vét.


Công tác giao khu vực biển bước đầu thực hiện đã đi vào nền nếp, bảo đảm tuân thủ các quy định hiện hành, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các tổ chức, địa phương có biển trong việc xử lý các hồ sơ giao khu vực biển để nhận chìm. Trong năm 2018, Tổng cục đã tiếp nhận và thẩm định, xử lý 14 hồ sơ đề nghị giao khu vực biển (trả lại 01 hồ sơ). Đã tham mưu với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập 06 Hội đồng thẩm định Hồ sơ đề nghị giao khu vực biển; trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xử lý xong 01 hồ sơ; đã giao 01 khu vực biển để Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An nhận chìm chất nạo vét; đã báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ để giải quyết 03 Hồ sơ. Hiện nay, đang hoàn thiện để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét giao 03 khu vực biển; đang chuẩn bị họp Hội đồng thẩm định 02 Hồ sơ và xử lý theo quy quy định 03 hồ sơ.


Công tác kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo:

Công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng tài nguyên và môi trường biển đã được Tổng cục triển khai có trọng tâm, trọng điểm, huy động và kết hợp hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan ở Trung ương và địa phương, lực lượng cảnh sát môi trường, cảnh sát biển, kịp thời xây dựng và điều chỉnh kế hoạch bảo đảm thống nhất với Thanh tra Bộ không để xảy ra chồng chéo, trùng lặp về đối tượng thanh tra.


Tổng cục đã tăng cường tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực địa phương, doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Cụ thể, đã tổ chức các Đoàn đi kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Định, Kiên Giang và thành phố Hải Phòng, thành lập Đoàn khảo sát, nắm bắt tình hình và thống nhất về nội dung thanh tra, đối tượng thanh tra tại tỉnh Nghệ An. Chủ động theo dõi, nắm bắt và có biện pháp xử lý kịp thời đối với thông tin từ các địa phương, dư luận, báo chí về tình hình môi trường biển, hải đảo.


Hướng dẫn, tổng hợp kết quả đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hải đảo của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển năm 2017; theo dõi kết quả đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hải đảo năm 2017 của các đơn vị trực thuộc Bộ trên cơ sở kết quả của các đơn vị tổng hợp, chấm điểm, đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hải đảo năm 2017 báo cáo Bộ. Thực hiện tốt Kế hoạch phối hợp giữa Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển năm 2018.


Tiếp tục triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động của cơ quan đầu mối thực hiện các nhiệm vụ của Bộ về ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu trên biển năm 2018. Triển khai thực hiện các nhiệm vụ, đề án tại Quyết định số 1862/QĐ-TTg ngày 23 tháng 11 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ về giám sát, đánh giá rủi ro, khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển giai đoạn 2018 – 2020; chủ động phối hợp với các lực lượng có liên quan tham gia xử lý ngay từ đầu sự các cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

 

Toàn cảnh Hội nghị

Toàn cảnh Hội nghị


Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khoa học, công nghệ; công tác hợp tác quốc tế được đẩy mạnh và có bước phát triển mạnh mẽ


Tổng cục đã xác định công khác khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm, giúp hỗ trợ và tăng cường nguồn lực, tri thức và công nghệ quản lý của Tổng cục. Trên cơ sở đó, Tổng cục tập trung nâng cao năng lực thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, xây dựng mạng lưới chuyên gia, các nhà khoa học, nâng cao chất lượng các hội đồng khoa học, bảo đảm được triển khai có hiệu quả, chất lượng phục vụ tốt cho công tác quản lý của Bộ và Tổng cục; tập trung xây dựng Kế hoạch năm 2019, giai đoạn 2019 – 2021 về công tác khoa học và công nghệ và công tác hợp tác quốc tế.


Ưu tiên triển khai 26 đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, trong đó có 05 nhiệm vụ đã được cấp đủ kinh phí và kết thúc trong năm 2018; 04 nhiệm vụ cấp cơ sở chuyển tiếp từ năm 2017 sang năm 2018 hiện đã hoàn thiện hồ sơ để nghiệm thu kết thúc; 01 nhiệm vụ cấp cơ sở chưa được cấp đủ kinh phí theo Quyết định được phê duyệt. Tổng cục đã ban hành Quyết định số 394/QĐ-TCBHĐVN ngày 13/7/2018 về việc ban hành Kế hoạch xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 thay thế TCVN 9001:2008 của Tổng cục. Đến nay, Tổng cục đã xây dựng xong các quy trình và phối hợp với Công ty Cổ phần tư vấn và Công nghệ quốc tế để thẩm định, công bố các quy trình TCVN ISO 9001:2015.


Công tác hợp tác quốc tế có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào việc đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên, nâng cao uy tín, vị thế của Bộ và Việt Nam với bạn bè quốc tế và trên các diễn đàn quốc tế về biển và hải đảo. Tổng cục đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai tổ chức thành công nhiều hoạt động quốc tế. Đã làm việc với Bộ Ngoại giao thống nhất tổ chức xây dựng Báo cáo chuyên đề về đối ngoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biển, hải đảo phục vụ tổng kết Nghị quyết 09-NQ/TW và triển khai phối hợp các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biển, hải đảo. Chủ trì tổ chức các hoạt động do Lãnh đạo Bộ chủ trì, tham gia như Sự kiện bên lề, Hội nghị bàn tròn cấp cao về rác thải nhựa đại dương và các cuộc tiếp xúc tại Kỳ họp lần thứ 6 Đại Hội đồng Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Hội thảo “Chính sách đại dương: Kinh nghiệm của Nhật Bản”, Hội thảo “Tham vấn Kế hoạch hành động quốc gia về Quản lý rác thải nhựa đại dương”, Hội thảo về xây dựng quy hoạch, kế hoạch biển, Hội thảo “Quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo mười năm nhìn lại và tham vấn Dự thảo báo cáo hiện trạng vùng bờ quốc gia lần thứ nhất”,… Đã hoàn thành trình Bộ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và triển khai Dự án ODA không hoàn lại hợp tác với PEMSEA, AFD, KOICA; đang xúc tiến đề xuất 04 dự án xin tài trợ từ Quỹ Môi trường toàn cầu, 02 dự án từ Quỹ Khí hậu xanh. Đã và đang tích cực trao đổi, đàm phán để ký kết các thỏa thuận hợp tác.

 

Thứ trưởng Trần Quý Kiên pb

Thứ trưởng Trần Quý Kiên phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị


Hội nghị đã được nghe đại diện lãnh đạo các đơn vị tham luận và đóng góp ý kiến cho công tác triển khai các nhiệm vụ của Tổng cục năm 2019. Tham dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Trần Quý Kiên biểu dương tập thể Tổng cục Biển và Hải đảo Việt nam đã có những thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm 2018, xử lý khối lượng công việc rất lớn và quan trọng. Thứ trưởng cũng đánh giá cao ban lãnh đạo Tổng cục đã có chỉ đạo sâu sắc, quyết liệt, đề ra phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2019.


Thứ trưởng Trần Quý Kiên cũng lưu ý, hợp tác quốc tế là vấn đề rất quan trọng, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị thuộc Bộ và các Bộ, ngành liên quan sẽ phối hợp, tạo điều kiện tốt nhất cho lĩnh vực biển, hải đảo để đảm bảo tiếng nói của Việt Nam có trọng lượng trên các diễn đàn hợp tác quốc tế, thể hiện vai trò, vị thế của nước ta. Thứ trưởng đề nghị Tổng cục tiếp tục quyết tâm, quyết liệt thực hiện 12 nhiệm vụ trọng tâm được giao tại Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019, việc triển khai các nhiệm vụ của Tổng cục trong năm 2019 cần bám sát thực tiễn và đảm bảo tiến độ, mục tiêu đề ra.

 

Chụp ảnh lưu niệm

Lãnh đạo Bộ TN&MT và Lãnh đạo Tổng cục chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tham dự Hội nghị


Tại hội nghị, Tổng cục trưởng Tạ Đình Thi cũng đưa ra các đề xuất, giải pháp pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019. Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm:


1. Quyết tâm thực hiện hoàn thành, bảo đảm tiến độ và chất lượng 12 nhiệm vụ Bộ Tài nguyên và Môi trường giao tại Quyết định số 12/QĐ-BTNMT ngày 02/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019, Quyết định số 15/QĐ-BTNMT ngày 03 tháng 01 năm 2019 ban hành Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng có liên quan về quản lý biển, hải đảo.

2. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, tập trung đối với các dự án điều tra cơ bản và xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin về biển, hải đảo; thúc đẩy thực hiện các dự án, nhiệm vụ về điều tra cơ bản biển và hải đảo do các Bộ, ngành, địa phương chủ trì; tham mưu việc thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, hải đảo.

3. Tham mưu, trình ban hành các quy định quản lý và tổ chức thẩm định, trình phê duyệt, bảo đảm chặt chẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý đối với các hồ sơ cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, hồ sơ đề nghị giao khu vực biển và hồ sơ xin cấp phép nhận chìm ở biển.

4. Tiếp tục triển khai các nội dung của Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

5. Tổ chức thực hiện tốt Kế hoạch năm 2019 về thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; chủ động nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong hoạt động kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Phối  hợp hiệu quả với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và các lực lượng khác trên biển, các bộ, ngành, địa phương có liên quan trong hoạt động quản lý.

6. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tham mưu, tổng hợp: chính sách và pháp chế, kế hoạch – tài chính, tổ chức cán bộ, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế, văn phòng.


Một số mục tiêu cụ thể năm 2019:

(1) Tập trung thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW thành các kế hoạch, chương trình, dự án, nhiệm vụ.

(2) Hoàn thành chỉ tiêu 28% diện tích các vùng biển được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000.

(3) Tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, công tác cấp phép, công tác kiểm tra, thanh tra.

(4) Nâng cao một bước năng lực của hệ thống tổ chức bộ máy và công chức, viên chức, người lao động của Tổng cục và các Chi cục Biển và Hải đảo.

(5) Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, điều hành, trọng tâm là ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các giải pháp quản lý thông minh, trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý.


Thu Loan