Về trang chủ


26/06/2020

“Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” – Chủ đề tại Cuộc họp không chính thức lần thứ 3 với các Đại sứ quán tại Hà Nội (HIM-3)


Sáng ngày 26/06, TS. Tạ Đình Thi, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam làm diễn giả về “Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” tại Cuộc họp không chính thức lần thứ 3 với một số Đại sứ quán tại Hà Nội (HIM-3) do Học viện Ngoại giao tổ chức.

 

Tham dự cuộc họp có đại diện Đại sứ quán, Cơ quan đại diện của một số nước tại Hà Nội; các cán bộ của Uỷ ban Biên giới, Vụ Chính sách Đối ngoại, Vụ Tổng hợp Kinh tế (Bộ Ngoại giao); Viện Biển Đông, Viện Chiến lược, Khoa Kinh tế Quốc tế (Học viện Ngoại giao) và Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. GS. TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao chủ toạ cuộc họp.

 

HIM 1

Toàn cảnh Cuộc họp

 

Cuộc họp là kênh làm việc không chính thức, là diễn đàn kết nối giữa các nhà quản lý, nhà nghiên cứu với nhóm thành viên các Đại sứ quán tại Hà Nội, là nơi trao đổi các quan điểm, ý kiến cá nhân về các chủ đề được lựa chọn. Chủ đề tại Cuộc họp không chính thức lần thứ 3 (HIM-3) này là về “Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Chiến lược) nhằm trình bày những nội dung chủ đạo của Chiến lược, làm rõ hơn quá trình xây dựng, hình thành và triển khai thực hiện Chiến lược đồng thời thông qua đó trao đổi tìm hiểu những khả năng hợp tác phát triển kinh tế biển.

 

Mở đầu bài trình bày, TS Tạ Đình Thi cho biết, biển và đại dương có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển, sự tồn tại của nhân loại, của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Các nước, các tổ chức quốc tế hiện hay hết sức quan tâm và dành thời lượng lớn để bàn bạc, trao đổi các khuôn khổ hợp tác về phát triển kinh tế biển cũng như các vấn đề khác liên quan đến biển và đại dương trong thế kỷ 21, “Thế kỷ của đại dương” và thập kỷ (2021-2030), thập kỷ được Liên hiệp quốc chọn là “Thập kỷ của Liên hợp quốc về khoa học biển vì sự phát triển bền vững”. 

 

HIM 2

TS. Tạ Đình Thi, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Diễn giả tại Cuộc họp

 

Thực tế Việt Nam đã nhận thức sớm về vấn đề này, cụ thể là năm 2007, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên của khu vực Châu Á thông qua Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược này đã được thực hiện năm 2018 để trên cơ sở đó hình thành Chiến lược mới, “Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã được cơ quan có thẩm quyền chính sách cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam thông qua tại Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 (NQ36).

 

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu tổng quát là “đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển”.

 

Tại cuộc họp, TS. Tạ Đình Thi đã trình bày tóm tắt nội dung Chiến lược, những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, chủ trương lớn, khâu đột phá, giải pháp để thực hiện thành công Chiến lược trong thời gian tới. Qua đó các đại biểu tham dự cuộc họp có thể thấy được tư tưởng xuyên suốt, ý nghĩa sâu xa của một Chiến lược phát triển kinh tế biển nhưng bao gồm những nội hàm bao quát đầy đủ các vấn đề của biển và đại dương: (i) Kinh tế -  xã hội - môi trường, 3 trụ cột của phát triển bền vững; (ii) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; và (iii) Tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển. Khung thời gian của Chiến lược đặt ra các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đây là mốc thời gian quan trọng, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt đối với Việt Nam, thời điểm kỷ niệm 100 năm độc lập của đất nước. Tư tưởng của chiến lược có sự tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế, các vấn đề mới và theo xu thế chung của nhân loại liên quan đến biển và đại dương. Nhiều học giả đánh giá, đây là một trong những Chiến lược tầm cỡ kết hợp đúng đắn giữa chính trị - khoa học - thực tiễn, có thể coi đây là tuyên ngôn về chính sách biển của Việt Nam trong thế kỷ 21.

 

Năm chủ trương lớn bao gồm: (i) Phát triển kinh tế biển và ven biển; (ii) Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển; (iii) Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai; (vi) Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển; (v) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế.

 

Ba khâu đột phá là: (i) Hoàn thiện thể chế phát triển bền vững kinh tế biển, ưu tiên hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới, phát triển mô hình tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh quốc tế của các ngành kinh tế biển, các vùng biển, ven biển; hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về biển. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch liên quan đến biển, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ giữa các ngành, địa phương; (ii) Phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, khoa học, công nghệ mới, thu hút chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu, nhân lực chất lượng cao; (iii) Phát triển kết cấu hạ tầng đa mục tiêu, đồng bộ, mạng lưới giao thông kết nối các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, các khu công nghiệp, khu đô thị, các vùng biển với các cảng biển dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, kết nối chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây giữa các vùng trong nước và với quốc tế.

 

Bảy giải pháp chủ yếu là: (i) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội; (ii) Hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững kinh tế biển; (iii) Phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển; (iv) Đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển; (v)Tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển; (vi) Chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển; (vii) Huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh.

 

Chiến lược cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2030 phấn đấu các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước. Các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển, dự kiến đến năm 2030 tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia…

 

Để cụ thể hoá NQ36 của Trung ương, ngày 05 tháng 3 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Nghị quyết số 26/NQ-CP (NQ26) ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện NQ36 trong đó:

 

Kế hoạch tổng thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: Cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, chủ trương lớn, khâu đột phá và giải pháp chủ yếu về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được đề ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW; xác định các nhiệm vụ trọng tâm, lộ trình thực hiện và phân công cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương có liên quan.

 

Kế hoạch 5 năm đến năm 2025: Xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, cần ưu tiên thực hiện trong giai đoạn đến năm 2025 nhằm triển khai các chủ trương lớn, khâu đột phá, giải pháp chủ yếu về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam được đề ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW. Phân công cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp với năng lực và khả năng huy động các nguồn lực của nền kinh tế, bao gồm ngân sách nhà nước, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển.

 

Ngoài ra, với sự tham mưu của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam – Bộ Tài nguyên và Môi trường, một loạt các Kế hoạch, Đề án, Chương trình trọng điểm đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt để thực hiện Chiến lược bao gồm: Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, Đề án Hợp tác quốc tế phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030; Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển và hải đảo đến năm 2030; Đề án tăng cường năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển, hải đảo đến năm 2030; và 2 Nhiệm vụ lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ sớm trình Chính phủ và Quốc hội phê duyệt. Để thực hiện Chiến lược, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định thành lập Uỷ ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Chiến lược, một cơ quan có quy mô rộng rãi và có thẩm quyền để quyết định các vấn đề về phát triển bền vững kinh tế biển, thể hiện quyết tâm của Chính phủ và là ưu tiên thực hiện trong thời gian tới.

 

Tại cuộc họp, các đại biểu đã trao đổi, làm rõ với Diễn giả, TS. Tạ Đình Thi các vấn đề liên quan đến nội dung Chiến lược đã trình bày, một số mục tiêu, chỉ tiêu cũng như những số liệu cụ thể để hình dung sự phát triển và đời sống, sinh kế của cư dân ven biển, những nỗ lực chống rác thải nhựa đại dương,… 

 

HIM 3

GS. TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao, Chủ toạ cuộc họp

 

Trả lời câu hỏi của GS. TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao về sự khác biệt, điểm nhấn của Chiến lược này với các Chiến lược tương tự của một số nước khác trong khu vực ví dụ của Trung Quốc và nếu Chiến lược này được thực thi triệt để thì đến năm 2045 sẽ mang lại thay đổi gì lớn trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, TS Tạ Đình Thi khẳng định,“Chiến lược của Việt Nam trước hết phải phù hợp với lợi ích của đất nước trong bối cảnh hiện tại cũng như dự báo trong tương lai. Trong quá trình xây dựng Chiến lược, các cơ quan đã có sự nghiên cứu tham khảo, rút kinh nghiệm từ rất nhiều chính sách của các nước khác trên Thế giới bao gồm cả Trung Quốc và điểm đặc biệt được nhấn mạnh và coi trọng trong Chiến lược của Việt Nam là: (i) Sự thống nhất trong tư tưởng và hành động để phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của đất nước và của thời đại, đây là tư tưởng và quan điểm xuyên suốt của Chiến lược; (ii) Mục tiêu tối thượng của Chiến lược là huy động được mọi nguồn lực kể cả trong nước và hợp tác quốc tế, của các khu vực, hợp tác công tư, các thành phần kinh tế khác nhau; (iii) Có sự linh hoạt trong quá trình thực hiện Chiến lược để phù hợp yêu cầu của từng giai đoạn, từng thời kỳ, chia ra các lộ trình thực hiện rõ ràng và cụ thể”.

 

“Tương lai là bất định, khó có được câu trả lời cụ thể nhưng có thể hình dung đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại với kinh tế biển là chủ đạo và kiên định theo định hướng của Chiến lược này, Việt Nam sẽ trở thành Quốc gia biển thân thiện, có sự hợp tác sâu rộng với các nước trên thế giới và Biển chính là cửa ngõ của đất nước nối với Thế giới”. Đây là quan điểm cá nhân và cũng là câu trả lời thay cho lời kết của Diễn giả, TS. Tạ Đình Thi, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tại buổi làm việc.

 

Thu Thuỷ

Các tin mới hơn
Các bản tin cũ hơn